sach-cau-chuyen-triet-hoc

Câu Truyện Triết Học

Câu Truyện Triết Học (Tái bản 2018)

Thật tài tình và thú vị khi Will Durant (1886-1981) đặt tên cho công trình lịch sử triết học của mình là “The Story of Philosophy”. Lịch sử triết học vốn khét tiếng là khô khan và nhức đầu! Will Durant có cái nhìn khác: nó rất hấp dẫn, lôi cuốn, nhất là với những ai có tính tò mò, “ham chuyện” như chúng ta. Với ông, ở đây ta có một câu chuyện thật gay cấn và đáng được kể lại cho nhiều người nghe dưới hình thức một câu chuyện!

Viết lịch sử như một câu truyện là một nghệ thuật cao cường của tác giả. Dễ hiểu tại sao “Câu truyện” này lại thành công ngoạn mục đến thế. Từ khi ra mắt vào năm 1926, trong vòng 50 năm (1976) tác phẩm đã được tái bản đến 28 lần, và đến nay (đầu 2008) không biết đã đến lần thứ bao nhiêu!…

Tuy nhiên, Will Durant, xuất thân là một ông nghè triết học của đại học Columbia, Hoa kỳ từ năm 1917, không chỉ khéo léo về phương pháp viết lịch sử triết học như một Câu truyện mà còn có đủ thẩm quyền chuyên môn để hiểu bản chất của lịch sử triết học (Tây Phương) như một câu chuyện. Đó là một câu chuyện đúng nghĩa vì đầy những tình tiết éo le, những thăng trầm kịch tính, những đường chim nẻo nguyệt của tâm thức con người được chưng cất ở mức độ đậm đặc nhất.

… Vì thế, với tấm  lòng chân thành và cởi mở của một học giả đích thực, W. Durant xác định rõ mục đích của quyển sách này là làm cho người bình thường hiểu được những ý tưởng cao xa của triết học. Ông xem khoa học như là sự “phân tích”, còn triết học như là sự “tổng hợp”. Vì thế, ông kết luận: “Khoa học là sự mô tả kiểu phân tích, trong khi triết học là sự lý giải kiểu tổng hợp. Vì lẽ một sự kiện không bao giờ là hoàn chỉnh trừ khi được đặt vào mối quan hệ với một mục đích và với cái toàn bộ. Khoa học mang lại cho ta kiến thức, nhưng chỉ có triết học mới có thể cho ta sự hiền minh”.

Tác giả:

Will Durant (1885-1981) sinh ở North Adams, tiểu bang Massachusetts, Mỹ. Cha mẹ ông là người Canada gốc Pháp, ông đậu cử nhân Triết học ở trường Saint Peter, làm phóng viên cho tờ New York Evening Journal. Năm 1911, ông rời bỏ trường dòng và đến giảng dạy tại trường Ferrer Modern. Năm 1914 ông chuyển công việc về nhà thờ Presbyterian ở New York. Tại đây, ông dạy Triết học, Văn chương và Lịch sử trong 13 năm. Những bài thuyết giảng trong quá trình dạy trở thành tài liệu khởi đầu cho các công trình nghiên cứu về sau.

Trong khoảng thời gian 1913-1917, ông theo học tại đại học Columbia ngành Sinh học và Triết học, năm 1917 ông nhận bằng tiến sĩ Triết học, và giảng dạy Triết học ở đó một năm.

Cuốn sách Câu chuyện triết học[[1]] (nguyên tác The Story of Philosophy) của ông ra mắt bạn đọc năm 1926, chỉ trong 3 năm, riêng các nước nói tiếng Anh đã tiêu thụ được 2 triệu bản, rồi sau đó sách được dịch sang tiếng Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Trung Quốc, Bồ Đào Nha, Ba Lan, Đan Mạch,… và trong vòng 50 năm (1926-1976) cuốn sách được tái bản đến 28 lần. Câu chuyện triết học mang lại cho Will Durant danh tiếng và sự độc lập về tài chính, tạo tiền đề cho việc nghiên cứu và xuất bản các công trình đồ sộ khác sau này: The Story of Civilization, The Lessons of History, Interpretation of Life: A Survey of Contemporary Literature.

Mục lục

Lời tựa

Đôi lời giới thiệu – Bùi Văn Nam Sơn

Khai từ cho lần xuất bản thứ nhì

Đôi lời cùng đọc giả

Dẫn luận

Chương I. Platon

Chương II. Aristote

Chương III. Francis Bacon

Chương IV. Spinoza

Chương V. Voltaire

Chương VI. Immanuel Kant

Chương VII. Schopenhauer

Chương VIII. Herbert Spencer

Chương IX. Friedrich Nietzsche

Chương X: Các triết gia Châu Âu hiện đại – Bergson, Croce và Bertrand Russell

Chương XI: Các triết gia Mỹ hiện đại – Santayana, James và Dewey

NHÀ SÁCH TUẤN MINH TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU BẠN ĐỌC.

sach-tri-tue-lanh-dao

Trí Tuệ Lãnh Đạo (Bộ 1 + 2)

Sách Trí Tuệ Lãnh Đạo

Bộ sách gồm 6 cuốn, được tuyển chọn từ nguyên tác tiếng Trung “Trí tuệ lãnh đạo tùng thư” (bộ 12 cuốn), do học giả Thường Vạn Lý chủ biên, được chia thành 2 hộp:

– Hộp 1 (3 cuốn): “Trường đoản kinh”, “Băng giám”, “Đức nhẫn”

– Hộp 2 (3 cuốn): “Đạo làm quan”, “Quỷ Cốc Tử”, “Nhân vật chí”

Nội dung chủ yếu nêu bật những yêu cầu, điều kiện không thể thiếu về phương diện tinh thần đối với bất cứ ai muốn thành công trong vai trò lãnh đạo, nhất là bước vào hoạn lộ. Nói chung đây là cả một kho báu, một kim chỉ nam quý giá giúp người đọc có thể nhận biết và phát hiện nhân tài, nắm bắt được triết lý về làm quan và xử sự… Có thể gọi là một toàn thư mưu lược văn võ, một bí quyết đồng thời là nghệ thuật trị quốc, trị quân, trị học, trị gia tuyệt hảo.

Trí tuệ lãnh đạo bộ 1 ( 3 cuốn) bao gồm:

1. Trí Tuệ Trường Đoản Kinh:

Sách “Trường đoản kinh” liệt kê học thuyết của bách gia chư tử, trình bày những sự thực lịch sử các thời đại mà cốt yếu là “luận về thuật cơ quyền của vương bá, thuật trường đoản của chính biến”, thu thập các sự kiện lịch sử quan trọng bị che lấp trong suốt các thời đại trước Tùy Đường, nêu bật các mưu lược thần kỳ, tuyệt luân của các bậc quân thần lỗi lạc, luận về các sở trường và sở đoản của họ. Tác giả còn dung hòa tư tưởng Nho, Đạo, binh pháp, tập trung các mưu lược của vương bá để hình thành một bộ toàn thư mưu lược văn võ.

“Trường đoản kinh” là một trước tác có nội dung về Tung hoành học do Triệu Nhuy thời nhà Đường biên soạn, được các bậc quân thần có chính tích, dày công nghiệp các thời đại đánh giá cao và áp dụng vào thực tế, được đề cao là tiểu “Tư trị thông giám” (cuốn biên niên sử nổi tiếng của Tư Mã Quang).

Sách Trí tuệ “Trường đoản kinh” có nội dung phong phú, ý nghĩa sâu sắc, đề cập đến nhiều phương diện như đức hạnh của quân thần, dùng sở trường của con người, quan sát tình thế, quyền biến bá lược …, sử và luận kết hợp; trình bày nhiều tầng thứ, nhiều góc độ, tạo thành một chỉnh thể trước sau chiếu ứng nhau. Tuy là một công trình xuất hiện từ hơn một nghìn năm trước, nhưng ngày nay nó vẫn là một trước tác “Tung hoành học” mang lại nhiều gợi ý sâu sắc và hữu ích dành cho các nhà lãnh đạo có chí lớn.

2. Trí Tuệ Băng Giám:

Tăng Quốc Phiên (1811 – 1872) tên là Tử Thành sinh tại tỉnh Hồ Nam, một đại thần nổi danh triều đại nhà Thanh là một trong “Văn Thanh tứ đại danh thần”. Ông không chỉ giỏi trị quốc, trị quân, trị học, trị gia được đời sau tôn sùng mà còn xem như một nhà nhân tướng học có biệt tài nhìn người và dùng người. Và đó cũng là nhân tố quan trọng hàng đầu dẫn đến sự thành công trong toàn bộ sự nghiệp của Tăng Quốc Phiên.

Vì thế, hậu nhân tập trung các trước tác nói về thuật nhìn người để sử dụng nhân tài của Tăng Quốc Phiên thành một tập lấy tên là “Băng giám”, ngụ ý lấy băng làm gương nhìn thấu tỏ chân tơ kẻ tóc mọi vấn đề. Tưởng Vĩ Quốc, khi làm hiệu trưởng Đại học Tam Quân đã chỉ định “Băng giám” là sách tham khảo quan trọng cho sinh viên.

Cuốn sách Trí tuệ bằng giám này là một sự chỉnh lý gia công đối với “Băng giám” nên lấy tên là “Trí tuệ Băng giám” được chia thành 2 phần: phần một gồm 7 chương , trình bày nguyên văn, dịch nghĩa và bình giải nguyên tác “Băng giám”; phần hai gồm 3 chương là “thuật nhìn người, dùng người của Tăng Quốc Phiên”, trình bày quan điểm về việc vận dụng nhân tướng học trong việc dùng người và bồi dưỡng nhân tài thông qua nội dung các bài văn của tác giả mà mục đích đều hướng đến việc nhìn vấn đề một cách toàn diện, vĩ mô.

3. Trí Tuệ Trong Đức Nhẫn:

“Nhẫn” là một khái niệm đã xuất hiện từ lâu trong cuộc sống. Trong sách “Thượng thư” thiên “Quân Trần” đã từng nhắc nhở “cần nhẫn nại để thành công, cần bao dung để thêm đức hạnh”. Ngay các bậc hiền nhân, minh triết đều nhấn mạnh sự lợi hại của chữ nhẫn khi vận dụng nó vào đời sống. Vì thế, người đời sau luôn đặt chữ nhẫn lên hàng đầu.

Trí tuệ trong đức nhẫn (Nhẫn kinh trí tuệ) được biên soạn từ cuốn “Khuyến nhẫn bách châm”. Cái tên đã nói rõ nội dung là tập hợp những câu chuyện về đạo “Nhẫn”. Toàn bộ cuốn sách Trí tuệ trong đức nhẫn bao gồm hàng trăm đạo lý của chữ nhẫn trong hầu hết các phương diện và lĩnh vực của cuộc sống. Trong đó vừa có cái nhẫn về sự kiên quyết không dung nạp cái ác như “Nhẫn về khí”, “Nhẫn trước sắc”, “Nhẫn trước sự sủng ái”. Bên cạnh đó, lại có cả cái nhẫn về hiếu thuận, liêm khiết, đức độ như “Nhẫn trong chữ hiếu”, “Nhẫn trong chữ trí”…

Khi đi sâu vào ý nghĩa sẽ thấy muôn màu của bộ mặt nhân sinh bày ra trong sức mạnh tiềm tàng của chữ nhẫn vốn ẩn chứa những phương kế sống của một đời người.

Nhẫn phải có tiền đề, có nguyên tắc. Mỗi người nên dựa theo điều kiện khách quan của mình để áp dụng một cách linh hoạt, như vậy mới đạt tới đỉnh cao của chữ Nhẫn.

Trí tuệ lãnh đạo bộ 2 ( 3 cuốn) bao gồm:

1. Trí tuệ về đạo làm quan:

“Quan trường”, “Hoan lộ” vốn từ xưa đã để lại không biết bao câu chuyện, tình huống mà kẻ trong cuộc chỉ còn biết thốt lên nỗi chua xót và sự bất lực của con người khi bước vào con đường công danh, sự nghiệp.

Minh Tư Tông Chu Do Kiếm, vị hoàng đế nhà Minh, vì sao lại hối hận vì được làm đế vương? Chốn quan trường không khác mấy với chốn giang hồ. Không phải chỉ có quyền uy, nhung lụa, vinh hoa phú quý mà còn chứa đựng những dâu bể và biết bao điều bất như ý mà người đứng ngoài không hiểu nổi. Như vậy, có chăng một đạo làm quan trong chốn quan trường hay nói cách khác là nên lập thân xử sự như thế nào khi bước vào hoan lộ?

Học giả Lã Bản Trung thời Nam Tống và Uông Huy Tổ một viên quan có tiếng thời nhà Thanh đã tập hợp những tinh hoa tư tưởng của hai người để trình bày một cách hệ thống triết lý về làm quan và xử sự trong một cuốn sáchđược đặt tên chung là “Trí tuệ về đạo làm quan”.

Nội dung sách Trí tuệ về đạo làm quan nhấn mạnh rằng việc dạy người làm quan xử sự vuông tròn không có nghĩa là xu nịnh, bị động, mà là biết lợi hại, biết tiến thoái, linh động và uyển chuyển để khi cần cương nhu đúng lúc nhằm đạt mục đích cuối cùng là giải quyết công việc tốt đẹp, mang lại lợi ích cho dân chúng.

2. Trí tuệ quỷ cốc tử:

Quỷ Cốc Tử là nhận vật mang đậm sắc thái truyền kỳ nhất trong lịch sử Trung Hoa. Tung hoành gia, Đạo gia, Binh gia và Mệnh tướng gia trong chư tử bách gia đều coi ông là bậc tổ sư, mấy đệ tử của ông đều là những danh tướng có ảnh hưởng đến tiến trình lịch sử như Trương Nghi, Tô Tần, Bàng Quyên, Tôn Tẫn và cả Trương Lương dưới trướng Lưu Bang.

Trí tuệ Quỷ Cốc Tử lâu nay luôn được coi là “vô tự thiên thư” (sách trời không chữ). Trong “Văn tâm điêu long”, Lưu Hiệp bình: “Quỷ Cốc diếu diếu, mỗi hoàn áo nghĩa” (Qủy Cốc Tử thuyết lý huyền bí sâu xa, thường trình bày những điều ảo diệu). Người đời sau đánh giá có cả khen chê, người khen thì xưng tụng là “sách lược hùng tài”, kẻ chê lại gọi là “thuật của kẻ gian manh”, nhưng đáng kể là những người tìm hiểu, học theo toàn là những quyền thần mưu sĩ tung hoành thiên hạ như Tào Tháo, Gia Cát Lượng và cả Lưu Bá Ôn.

Sách Trí tuệ quỷ cóc tử chia thành ba thiên thượng, trung, hạ tổng cộng 21 quyển vừa luận về việc tu thân dưỡng tính, vừa bàn về việc nhập thế thành sự, phân tích chi tiết về mưu lược và các kỹ năng kiểm soát người khác, giành chiến thắng trong rối ren. Tóm lại, đây là một kim chỉ nam luận về việc khôn khéo giữ mình, là bí quyết mưu cầu phú quý của người thành công.

3. Trí tuệ nhân vật chí:

Nhận biết và phát hiện nhân tài để giao trọng trách cho họ không chỉ là việc thuộc trách nhiệm của người lãnh đạo mà còn là một yếu tố then chốt quyết định người lãnh đạo có thành công hay không. Nhưng trên đời, thiên lý mã thì nhiều mà Bá Nhạc thì hiếm, phát hiện nhân tài không phải là chuyện dễ dàng, cần phải có kỹ năng và phương pháp nhất định.

Con người tập trung tinh hoa của vạn vật trời đất, chứa đựng tinh, khí, thần, huyết trong cơ thể, các cảm xúc mừng giận buồn vui ẩn sâu trong lòng, tuy tướng mạo bên ngoài có những biểu hiện khác nhau, nhưng hoạt động nội tâm thì người khác không thấy được. Như vậy, dựa vào đâu để nói có thể thấu tỏ tâm tính, phẩm chất và năng lực bên trong của con người?

Sách Trí tuệ “Nhân vật chí” là một trước tác của Lưu Thiền, nhà nghiên cứu tư tưởng học thuật thời Ngụy Tấn, trình bày một cách có hệ thống về cách nhận biết nhân tài. Sách gồm 15 chương, giới thiệu hai phương diện chính, phản: trình bày kỹ năng và phương pháp nhận biết con người từ chính diện (chương 1-12); tiếp đó nêu rõ những sai lầm thường mắc phải khi quan sát con người trong đời sống thường ngày (chương 13-14).

Ngoài các phần nguyên văn, nội dung sách còn thêm một ít lời bàn sâu sắc và một số thí dụ minh họa cụ thể, giúp độc giả dễ dàng lĩnh hội, vận dụng linh hoạt trong thực tế.

NHÀ SÁCH TUẤN MINH TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU BẠN ĐỌC.

sach-bien-ho-cho-mot-nen-giao-duc-khai-phong

Biện Hộ Cho Một Nền Giáo Dục Khai Phóng

Giáo dục khai phóng là một lãnh vực rộng, bao gồm những môn học không phải thuần kỹ thuật, hay khoa học chuyên môn, mà liên quan đến nghệ thuật, âm nhạc, lịch sử, triết học, văn học, ngôn ngữ,v.v…, tức mang tính nhân văn.

Nó nhằm đào tạo con người toàn diện, phát triển nhiều khả năng, tạo nền tri thức rộng, tạo ý thức lịch sử, nhân loại, để làm công dân, làm người văn hóa, hơn là một chuyên gia trong một lãnh vực chuyên môn.

(TS Nguyễn Xuân Xanh)

Con đường dẫn đến sự giàu có

Con đường dẫn đến sự giàu có

Giới thiệu sách:

 Trong nền kinh tế ngày nay, việc xác định những mục tiêu nghề nghiệp và cá nhân rõ ràng cùng với quyết tâm lập nên kế hoạch để đạt được chúng là điều quan trọng hơn bao giờ hết. Trong cuốn sách Con đường dẫn đến sự giàu có, May McCarthy sẽ chia sẻ với bạn những ý tưởng để giúp bạn đạt được điều đó.

Bước đầu tiên trong cuộc hành trình là chào đón thành viên mới trong đội ngũ cố vấn tài chính của bạn: sức mạnh vô biên của vũ

trụ mà McCarthy gọi là Tổng giám đốc Tinh thần (Chief Spiritual Officer CSO).Trong phần một của sách, bạn sẽ học cách thiết lập bài rèn luyện bảy bước hành động mỗi ngày. Khi những bước hành động này được áp dụng vào cuộc sống, bạn sẽ thấy sự thay đổi hoàn toàn trong cách nghĩ của bạn về sự giàu có và dồi dào vật chất.

Trong phần hai, bạn sẽ đào sâu tìm hiểu để học cách kiểm soát những thăng trầm tài chính, vượt qua nỗi sợ thất bại và loại bỏ những niềm tin và hành vi xưa cũ đang ngăn cản bạn đến với thành công mà mình mong muốn.

LÊ MẠT SỰ KÝ: SỰ SUY TÀN CỦA TRIỀU LÊ CUỐI THẾ KỶ XVIII

LÊ MẠT SỰ KÝ: SỰ SUY TÀN CỦA TRIỀU LÊ CUỐI THẾ KỶ XVIII

LÊ MẠT SỰ KÝ: SỰ SUY TÀN CỦA TRIỀU LÊ CUỐI THẾ KỶ XVIII

Khi đề cập đến việc sụp đổ của Lê triều cuối thế kỷ XVIII hầu hết các sử gia đều cho rằng việc vua Lê cầu viện Trung Hoa đem quân sang Đại Việt là nguyên nhân chính yếu. Việc nhờ vả ngoại bang lấy lại nước cho mình đã truất đi cái thiên mệnh đế vương.

Thế nhưng sự việc không phải chỉ có thế mà còn ẩn giấu những lý do sâu xa hơn. Sử Việt Nam đương thời – đúng ra là sử quan triều Nguyễn – trong nỗ lực chính thống hóa việc vua Gia Long thống nhất sơn hà, lên ngôi hoàng đế đã tìm cách hạ thấp không chỉ đối thủ của ông là Tây Sơn mà còn phi nghĩa hóa cả triều Lê, triều đại trước đây vẫn được làm chỗ dựa tinh thần khi chúa Nguyễn còn đang bôn ba phục quốc, cần tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân Bắc Hà. Cho tới năm Nhâm Tuất [1802], Nguyễn Phúc Ánh vẫn dùng niên hiệu Cảnh Hưng trên mọi văn thư chính thức.

Việc hợp thức tân triều đạt được nhiều kết quả nên gần như suốt thế kỷ XIX, cựu triều bị lãng quên, chỉ còn âm ỷ ẩn sâu trong tâm khảm một số nhà nho hoài vọng nước cũ. Lê triều thì ít nhiều còn được nhắc đến, Tây Sơn hầu như hoàn toàn bị cấm kỵ. Nếu đôi khi được đề cập, hình ảnh duy nhất còn sót lại là chiến thắng Kỷ Dậu [1789], còn niên hiệu Cảnh Thịnh, tuy kéo dài gần 10 năm, thì không mấy ai nhớ tới. Giới sĩ phu coi triều Nguyễn là tiếp nối chính thức của triều Lê theo thứ tự Đinh, [Tiền] Lê, Lý, Trần, [Hậu] Lê, Nguyễn. Còn những thời kỳ ngắn ngủi xen kẽ như triều Hồ, Mạc hay Tây Sơn chỉ là những ngụy triều. Riêng Tây Sơn thì triều đình Nguyễn làm như họ không tồn tại trong lịch sử mà chỉ là một đám giặc lớn bạo phát bạo tàn nổi lên nhưng sau đó bị chúa Nguyễn đánh dẹp.

Cứ như lẽ thường, nhà Lê chấm dứt khi vua Chiêu Thống bỏ nước bôn đào và vua Quang Trung đủ danh chính ngôn thuận để mở ra một triều đại mới. Không những Nguyễn Huệ là quốc trưởng đứng đầu cơ cấu hành chính và quân sự, ông cũng được nhà Thanh công nhận một cách chính thức, nếu không nói rằng còn rực rỡ hơn vua chúa mấy trăm năm triều Lê.

Dẫu vậy, Khâm định Vit sử thông giám cương mục, bộ sử lớn của nhà Nguyễn, vẫn úp mở tiếp tục coi nhà Lê còn tồn tại trên hình thức một triều đình lưu vong cho đến khi vua Gia Long lên ngôi. Khâm định Vit sử thông giám cương mục (quyển 47) chỉ chép đến thời điểm nhà Lê chấm dứt:

Nhà Lê trên đây từ Thái Tổ, Mậu Tuất, năm thứ 1 [1418] đến Chiêu Tông, năm Bính Tuất, Quang Thiu thứ 11 [1526] cộng 9 đời vua gồm 109 năm. Phụ vào đó, Mạc Đăng Dung 3 năm, Đăng Doanh 3 năm, Hậu Lê từ Trang Tông, năm Quý Tỵ, Nguyên Hòa thứ 1[1533] đến Mẫn Đế năm Kỷ Dậu, Chiêu Thống thứ 3 [1789], cộng 16 đời vua, gồm 257 năm, tổng cộng tất cả là 372 năm.

Việc chép sử với thiên kiến như thế khiến khoảng hơn 12 năm (1789-1802) – thời gian nhà Lê đã qua đi nhưng vua Gia Long chưa chính thức lên ngôi hoàng đế – bị gián đoạn. Để trám vào chỗ trống, Khâm định Vit sử thông giám cương mục tường thuật những dật sự về nhóm người lưu vong ở Trung Hoa, những khắc bạc của Thanh triều cho đến khi vì sự độ lượng của tân triều mà hài cốt vua Lê được đem về táng ở Thanh Hóa năm Giáp Tý [1804].

Chính vì một giai đoạn bị bỏ qua và triều đình liên tục tìm cách xóa đi những tàn tích nên khi cần nối lại dòng lịch sử, nhiều nhà nghiên cứu đã phải mượn tài liệu thứ cấp, đa số do người từ bên ngoài chính quyền, không trực tiếp đóng một vai trò nào trong cơ cấu hành chính. Những phục dựng ấy không khỏi bị pha trộn một cách tùy tiện nhiều quan điểm chủ quan, nảy sinh những chi tiết không thể nào kiểm chứng được.

Trong chiều hướng mới, để tìm lại một giai đoạn “khuyết sử”, chúng ta phải dựa vào nhiều nguồn khác nhau từ các khu vực riêng rẽ. Trong cùng một thời điểm, trên giải đất nước Việt Nam hiện diện nhiều thế lực địa phương không đồng bộ mà đầy mâu thuẫn, thế lực nào cũng tìm cách liên minh với bên ngoài để gia tăng sức mạnh.

Ở Gia Định, chúa Nguyễn Ánh liên kết hàng ngang với triều đình Chân Lạp, Xiêm La, những cộng đồng di dân và những quốc gia ở xa hơn, đáng kể là các nước Tây phương đã thành lập đầu cầu ở Macao, Manille và nhiều vùng phụ cận. Đến thế kỷ XVII, một số đông người Trung Hoa xuống phương Nam lập nghiệp, tạo thành nhiều khu vực Hoa kiều ở khắp mọi nơi, duy trì gắn bó bằng tiếng nói, bằng tín ngưỡng, phong tục và sinh hoạt theo lối riêng của họ. Ở Xiêm La, nhiều dòng quý tộc địa phương có nguyên thủy từ Hải Nam, Phúc Kiến, Quảng Đông. Ở Việt Nam, các khu vực Hà Tiên, Gia Định cũng có nhiều nhóm thế lực và thương nhân Minh hương ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến biến chuyển chính trị. Một số không nhỏ người thân cận của chúa Nguyễn có nguồn gốc Trung Hoa. Ngoài ra, quan trọng không kém, các phái bộ truyền giáo từ phương Tây cũng mở ra một mạng lưới chằng chịt, rộng lớn khắp cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài, luôn luôn tìm cách tạo ảnh hưởng với triều đình ngõ hầu được dễ dãi trong việc giảng đạo.

Ở Bắc Hà, triều đình Tây Sơn cũng chinh phục những nhóm thiểu số phía tây ở Vạn Tượng, Trấn Ninh và chuẩn bị vươn dài tới Miến Điện để chống với liên minh Xiêm La/Gia Định nhưng chưa đi được xa. Triều đình Tây Sơn cũng tạo được giao thiệp mật thiết với Trung Hoa, tuy thực tế danh nhiều thực ít.

Sự liên kết hàng dọc đó khiến Trung Hoa áp dụng hai đường hướng cụ thể:

1. Trên mặt đối ngoại, họ ve vãn và công nhận vua Quang Trung, giao tình càng chặt sau chuyến đi của phái đoàn Tây Sơn sang Bắc Kinh năm Canh Tuất [1790]. Ngoài việc đón tiếp nồng nhiệt và quà cáp vượt mức thường, những đặc ân vô tiền khoáng hậu của vua Càn Long đối với vua Quang Trung đã nâng cấp Đại Việt lên hàng sủng phiên trong các vệ tinh xung quanh nước tông chủ.

Về thương mại, triều đình Trung Hoa cho mở lại những cửa ngõ thông qua biên giới và công nhận Đại Việt toàn quyền kiểm soát các trục lộ hàng hải ở vùng biển phía nam, đóng vai trò phên giậu cả trên bộ lẫn trên biển theo đúng mô hình đồng tâm trong chính sách ki mi. Triều đình Tây Sơn cũng tương kế để tạo thành một đầu cầu thương mại làm trung gian cho những quốc gia nào muốn buôn bán với Trung Hoa.

Nhân đà thắng thế, vua Quang Trung vươn dài ra biển cả, bành trướng thế lực như một tiểu bá trong khu vực. Rủi ro thay, những lần thân chinh cầm quân nơi rừng núi Hạ Lào khiến Nguyễn Huệ mắc bạo bệnh qua đời khi ông chưa đầy 40 tuổi và cơ nghiệp nhanh chóng suy bại vì nội bộ xâu xé nhau.

2. Về đối nội, chính sách đối với những người thất thế chạy sang Trung Hoa làm nổi bật sự trăn trở và mặc cảm của Thanh triều về thất bại quân sự. Khi đưa quân sang Đại Việt, chiêu bài “nhân nghĩa” được vua Càn Long nêu cao như một nhiệm vụ cơ bản đối với thuộc quốc. Tuy nhiên, đạo lý tông phiên cũng có giới hạn và khi cảm thấy nguy cơ bị sa lầy thì họ liền chuyển sang một hướng khác có lợi hơn.

Nhằm giữ thể diện nước lớn, nhà Thanh bỏ rơi vua Chiêu Thống và vô hiệu hóa những người đi theo để lấy lòng triều đình Tây Sơn. Chính sách an tháp của Trung Hoa không nhằm tỏ lộ sự thể tuất [thương xót] những người trước đây đã thần phục mình mà chính là để giải thích cho xuôi vai trò của họ:

– Thu nhận những người chạy qua, tùy theo từng thành phần chia ra mỗi nơi một ít, vừa khiến cho địa phương dễ dàng giải quyết, vừa gia tăng tốc độ đồng hóa và hội nhập. Chỉ một thời gian ngắn, hầu hết nhóm nhà Lê đã có thể tự tồn như bất cứ người dân bình thường nào trên đất Trung Hoa.

– Bắt họ phải gióc tóc đổi áo theo tập tục Mãn Thanh, chấm dứt các hoạt động chống lại Tây Sơn. Vua Càn Long cũng sai Phúc Khang An đưa phái đoàn Nguyễn Quang Hiển đến gặp vua Lê [nay đã ăn mặc y phục Mãn Thanh] để minh xác nay không còn yểm trợ họ nữa.

– Khi vua Quang Trung sang dự lễ Bát Tuần Khánh Thọ, vua Càn Long cũng thỏa hiệp để đưa về bản quán những ai cam kết không tiếp tục chống phá tân triều, mặt khác yêu cầu triều đình Tây Sơn đưa thân nhân muốn đoàn tụ với gia đình sang Trung Hoa.

– Khi vua Lê và cận thần không bằng lòng với những giải pháp ấy và yêu cầu triều đình Trung Hoa đòi Tây Sơn cắt một tỉnh thượng du cho Lê triều làm nơi hương khói tổ tiên [tương tự như nhà Minh trước đây ép nhà Lê cắt Cao Bằng cho nhà Mạc], vua Càn Long đã nổi giận, đày họ ra sa mạc Tân Cương, Mông Cổ. Những ai không chịu cắt tóc, thay áo thì cấm cố trong ngục bằng cái án bất tuân.

Mọi việc chỉ thay đổi khi có những biến chuyển chính trị ở cả Trung Hoa lẫn Đại Việt.

Ở Trung Hoa, khi vua Gia Khánh lên kế vị, ông đã đảo ngược chính sách đối ngoại của vua cha (Càn Long) và nhiều khó khăn nội trị khiến ông không còn thiết tha với chính sách can thiệp vào các tiểu quốc phía nam.

Ở Bắc Hà, triều đình Tây Sơn nay phải đối phó với những nguy hiểm gần kề, từ bất ổn bên trong đến áp lực bên ngoài mỗi lúc một thêm chồng chất nên bang giao Thanh-Việt cũng không còn mặn mà như trước nữa. Những chi phí quân sự càng lúc càng lên cao khiến vai trò phòng thủ mặt biển cũng mất đi hiệu quả và lực lượng Tây Sơn chỉ còn thu hẹp vào các phòng tuyến trên đất liền.

Khi chúa Nguyễn Phúc Ánh lấy lại Phú Xuân, trong cơn tuyệt vọng vua Cảnh Thịnh [Tây Sơn] cố gắng tìm một lối thoát sau cùng; đó là tìm sự bảo hộ của nhà Thanh, nếu không yểm trợ quân sự thì cũng giúp cho một nơi nương náu.

Tuy nhiên, triều đình chúa Nguyễn đã đi trước một bước và cho người đem sang Trung Hoa ấn, sắc của nhà Thanh ban cho triều đình Tây Sơn như một bằng chứng về thực lực yếu kém của họ đồng thời tố cáo việc họ dung dưỡng những đám giặc bể có nguồn gốc phạm pháp từ nội địa chạy qua.

Yêu nên tốt, ghét nên xấu, vua Gia Khánh từ chối không cho sứ thần Tây Sơn lên kinh đô triều kiến, lại ra lệnh đóng cửa quan để anh em Nguyễn Quang Toản không thể chạy sang. Nhận được dấu hiệu “đèn xanh”, vua Gia Long tiến thẳng ra Bắc thu phục nốt căn cứ sau cùng của Tây Sơn. Dân chúng cũng tự động bắt giữ vua Bảo Hưng [niên hiệu mới của Cảnh Thịnh] giải về Thăng Long, chấm dứt một vương triều ngắn ngủi.

Nhìn từ nhiều góc độ, chỉ trong một thập niên, các thế lực tranh bá đồ vương từ Nam Quan đến vịnh Xiêm La đã phát huy tất cả tiềm năng mong đạt được mục tiêu sau cùng. Những liên minh chồng chéo khiến việc phân tích, gỡ rối càng thêm phức tạp và phân định thù bạn, đúng sai, chính tà thật không đơn giản.

Trong tập hợp ngắn này, chúng tôi chỉ nhìn lại đời sống và sinh hoạt của những người lưu lạc ra bên ngoài, nay đã vô can với biến chuyển, đổi thay ở trong nước. Họ sống như thế nào? Nỗ lực của họ đi về đâu?

Vua Chiêu Thống sống và chết trong vòng kiềm tỏa của nhà Thanh. Người vợ trẻ xa chồng xa con sống lẻ loi trong một ngôi chùa chờ đón linh cữu cố quân về nước. Một bầy tôi bị đánh lừa sang Trung Hoa bị cầm tù hơn mười năm vì không chịu cắt tóc đổi áo. Đó là những góc tối của xã hội trong một giai đoạn đầy sóng gió, nhiễu nhương.

NGUYỄN DUY CHÍNH

— (Trích Dẫn nhập, Lê mạt sự ký: Sự suy tàn của triều Lê cuối thế kỷ XVIII, Nguyễn Duy Chính, DT Books & Nxb Khoa học xã hội, 10/2016, tr. 13-18.) —

 

XÃ HỘI VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC

XÃ HỘI VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC

XÃ HỘI VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC
Lê Nguyễn là một bút danh quen biết trên nhiều ấn phẩm định kỳ. Ông là cây bút chuyên viết lịch sử, một lĩnh vực thường được nhiều bạn đọc quan tâm, và cũng vì thế nên được nhiều tòa báo quan tâm. Bài ông viết thường ngắn gọn, đề tài thường quy về một nhân vật, một sự kiện hay một hiện tượng lịch sử cụ thể. Bài viết của ông dễ hiểu nhờ cách viết mộc mạc, mạch lạc. Dễ hiểu nhưng vẫn sâu sắc và hấp dẫn nhờ nguồn tư liệu ông sử dụng phong phú và có chọn lựa.
Sở trường của ông, qua những bài tôi đọc được, là những vấn đề thuộc thời kỳ lịch sử cận đại, thời gian chủ yếu thuộc về nửa cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX.
Cách chọn đề tài cho thấy tác giả là cây bút có năng lực khai thác các nguồn sử liệu phương Tây, nhất là của Pháp. Tuy nhiên, việc ông “cày” sâu vào giai đoạn lịch sử này, có thể còn vì ông thấy đây là một lĩnh vực sử học mà ông có thể mang lại cho nhiều bạn đọc ngày nay những tri thức bổ ích và sâu sắc.
Thời kỳ lịch sử cận đại Việt Nam, theo cách phân kỳ phổ biến hiện tại được giới hạn từ khi thực dân Pháp xâm lược biến nước ta thành thuộc địa cho đến khi Việt Nam giành độc lập (1858-1945). Đương nhiên trong giai đoạn này có những trang sử của cuộc đấu tranh cứu nước quật khởi mang tính truyền thống của nhân dân ta. Nhưng lịch sử cận đại trước hết lại là một tấm bi kịch của cả một dân tộc. Nếu ta nhớ lại rằng kể từ khi Ngô Vương Quyền đại phá giặc Nam Hán trên sông Bạch Đằng (năm 938), nền tự chủ của dân tộc Đại Việt được xác lập. Trong nhiều thế kỷ tiếp theo, dù có nhiều lần nền tự chủ ấy bị phương Bắc xâm lược đe dọa, nhưng tất cả đều kết thúc bằng thắng lợi của những cuộc kháng chiến mà dân ta không hề để mất nước. Duy nhất ở đầu thế kỷ XV, nhà Hồ để mất nước, giặc Minh đô hộ đúng 20 năm thì bị những người khởi nghĩa từ Lam Sơn đánh đuổi giành lại nền tự chủ và triều Lê tồn tại và phát triển liên tục gần 4 thế kỷ…
Vậy mà thời kỳ lịch sử cận đại có đến 80 năm nước ta là thuộc địa của thực dân Pháp, có nghĩa là thời gian mất nước dài gấp 4 lần thời giặc Minh đô hộ. Hiểu được điều ấy, mới thấy cái bi kịch của lịch sử này to lớn đến nhường nào. Cái bi kịch mà các ông vua của triều Nguyễn từ Tự Đức, cho đến Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân… nhìn thấy vận nước đã suy mà không tìm ra con đường cứu nước của Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường, Thiên Hộ Dương… đến Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp… Cái bi kịch còn hiển hiện ngay khi chứng kiến những biến đổi to lớn của đất nước ta dưới những tác động của cuộc khai thác thuộc địa, đồng thời cũng là sự giao tiếp với nền văn minh phương Tây… Những bài viết của Lê Nguyễn thường đi sâu vào những bi kịch này như một sự chia sẻ với quá khứ mà không phải là để lên án một ai… Ông đề cập tới những vấn đề lịch sử giống câu chuyện ngụ ngôn hơn là một sự phán xét.

Bìa ấn bản 2016
Đương nhiên, tương xứng với cái bi kịch cũng là cái thử thách to lớn ấy, còn có những trang sử vinh quang chép về công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc dẫn đến thắng lợi của cuộc Cách mạng mùa Thu năm 1945 mà tác giả không đề cập trong cuốn sách này. Viết về cái khoảng tối của lịch sử mà làm nên tương phản với tương lai khiến cho những gì tác giả viết trở nên sâu sắc.
Tôi không có ý định dành những lời to tát để nói về một tập hợp những bài viết nhỏ của Lê Nguyễn trong tập sách này. Nhưng đó là cảm nhận thực sự khi đọc những bài viết riêng lẻ của tác giả đăng rải trên những trang báo nay được nén lại trong một cuốn sách. Tôi đã từng làm công việc tập hợp lại những bài viết lẻ của cụ Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố trong chuyên mục Sử ta so với sử Tàu đăng trên Tạp chí Tri Tân thành một cuốn sách, nên thấy được cái công phu và đóng góp của những cây bút như Lê Nguyễn đối với việc nghiên cứu và truyền bá lịch sử dân tộc. Nói như vậy để thể hiện một sự trọng thị và khích lệ công việc của Lê Nguyễn cũng như nhiều cây bút khác đã tận tâm truyền bá tri thức lịch sử dân tộc bằng những bài viết nhỏ lẻ và dễ đọc này.
Theo tôi, cái làm nên sự hấp dẫn của lịch sử chính là sự chân thực và lẽ công bằng. Do vậy mà tôi mạnh dạn viết trên trang đầu sách Lời giới thiệu để khẳng định rằng, đây là một cuốn sách hấp dẫn.
Đất nước Việt Nam qua các đời

Đất nước Việt Nam qua các đời

Đất nước Việt Nam qua các đời

Đào Duy Anh là một nhà bách khoa thư đích thực. Lấy sử học làm lẽ sống, nhưng ông đã đồng thời quan tâm đến địa lý học lịch sử bởi nó bổ trợ thiết yếu cho nền sử học nước nhà. Đó là lý do ra đời của công trình nghiên cứu địa lý học lịch sử nổi tiếng – Đất nước Việt Nam qua các đời.
Công trình này tập trung nghiên cứu địa lý hành chính để nhận định cương vực của nước Việt Nam và vị trí các khu vực hành chính trải qua các đời, từ thời Văn Lang, Âu Lạc, qua thời kỳ Bắc thuộc, trải đến thời tự chủ và cho đến thời nhà Nguyễn. Với công tác nghiên cứu công phu, khối lượng sách tham khảo đồ sộ, Đào Duy Anh đã vẽ nên bức tranh rộng lớn, mô tả sự phát triển và biến đổi của lãnh thổ Việt Nam kéo dài suốt gần hai thiên niên kỷ, khiến công trình trở thành một nghiên cứu đầy đủ nhất, hệ thống nhất về lãnh thổ Việt Nam trong thế kỷ XX.
Đất nước Việt Nam qua các đời và các công trình khác cùng chuyên ngành đã xác lập vị trí của Đào Duy Anh là một nhà địa lý học lịch sử tiêu biểu nhất cho đến nay, là người khơi mở và truyền cảm hứng cho sự phát triển chuyên ngành này ở Việt Nam
Ngồi như phật

Ngồi Như Phật

Giới thiệu sách:

Sách Ngồi như phật viết hãy tin những gì bạn đã nghe về kết quả của hành thiền: nó sẽ làm đầu óc bạn tập trung, trái tim bạn mở rộng, đôi khi còn khiến bạn ngạc nhiên với tri kiến. Và học thiền định không phức tạp. Thực ra, mọi thứ bạn cần biết đã có đủ trong những trang của cuốn sách nhỏ này. Lodro Rinzler bắt đầu bằng cách khuyên bạn tự hỏi vì sao mình hành thiền. Khi đã rõ ràng về ý định, bạn sẽ học tất cả những điều cơ bản để

việc hành thiền trở thành một ưu tiên, bất kể bạn bận rộn ra sao. Sau đó, bạn sẽ biết làm thế nào đưa trí huệ và từ bi mà bạn khám phá trong thiền định vào mọi lĩnh vực của cuộc sống.
Phật giáo cho cánh đàn ông

Phật Giáo Cho Cánh Đàn Ông

Nhà sách Tuấn Minh giới thiệu bạn đọc,

Trong Sách Phật giáo cho cánh đàn ông, bằng sự hài hước và thẳng thắn của một người bình thường về mọi mặt, Gerry Stribling có cái nhìn thấu đáo về Phật giáo, thiền, nghiệp và những vấn đề khác. Bằng cách cho thấy làm thế nào sách Phật giáo tiếp cận những vấn đề của cuộc sống một cách trực diện, không nao núng và thực sự tỉnh táo – giống như một người lính trinh sát trong đêm tối – Strib nhấn mạnh thông điệp Phật giáo về hành động hợp luân lý vì sự tốt đẹp

cho bản thân và người khác
10 ngày có thể nói 1000 câu tiếng Anh công sở kèm CD

10 Ngày Có Thể Nói 1000 Câu Tiếng Anh Công Sở (Kèm CD)

Giới thiệu sách:

Sách 10 ngày có thể nói 1000 câu tiếng Anh công sở kèm CD (Tái Bản) của Tri Thức Việt được biên soạn với nhiều tình huống được đặt ra giúp các bạn có thể giao tiếp và ứng sử với người nước ngoài tốt nhât. Sách tuyển chọn và chọn lọc

Nghệ thuật nói chuyện của Jack Ma

Nghệ thuật nói chuyện của Jack Ma

Cuốn sách nghệ thuật nói chuyện của Jack Ma sẽ chỉ ra cho bạn thấy, nghệ thuật nói chuyện tài tình; sự năng động như một người hoạt náo viên của một nhà lãnh đạo; khả năng nắm bắt tâm lý,nhà sách online từng bước dẫn dắt đối phương khéo léo sử dụng ngôn ngữ giàu tính tượng hình kết hợp những câu chuyện kể để nói lên đạo lý “nhỏ”.

xa-hoi-viet-nam-thoi-phap-thuoc

XÃ HỘI VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC

XÃ HỘI VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC

xa-hoi-viet-nam-thoi-phap-thuoc

xa-hoi-viet-nam-thoi-phap-thuoc

Xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc của tác giả Lê Nguyễn là cuốn sách thứ 3 thuộc Tủ sách Biên khảo – Sử liệu  sách gồm 44 bài viết hấp dẫn và sâu sắc, trải dài trong khoảng thời gian 64 năm, từ ngày ký hòa ước Nhâm Tuất 1862 biến ba tỉnh miền Đông Nam kỳ thành thuộc địa của Pháp, đến năm 1926, sau khi vua Khải Định thăng hà, hoàng thái tử Vĩnh Thụy lên ngôi với niên hiệu Bảo Đại và tiếp tục sang Pháp học.

Trong khoảng thời gian từ nửa cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX đó, tác giả đã chọn lọc những sự kiện (hòa ước Nhâm Tuất, Giáp Tuất, vụ mưu sát Hoàng Hoa Thám, chuyến Bắc hành của Trương Vĩnh Ký…), nhân vật lịch sử (từ các ông vua triều Nguyễn: Tự Đức, Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân… cho đến Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường, Thiên Hộ Dương, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp…), hay một hiện tượng lịch sử nổi bật… Nguồn tư liệu ngoài chính sử, còn được phong phú hóa bởi tác phẩm của các cây bút nghiên cứu Pháp đương thời.

“Tôi không có ý định dành những lời to tát để nói về một tập hợp những bài viết nhỏ của Lê Nguyễn trong tập sách này. Nhưng đó là cảm nhận thực sự khi đọc những bài viết riêng lẻ của tác giả đăng rải trên những trang báo nay được nén lại trong một cuốn sách. Tôi đã từng làm công việc tập hợp lại những bài viết lẻ của cụ Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố trong chuyên mục Sử ta so với sử Tàu đăng trên Tạp chí Tri Tân thành một cuốn sách, nên thấy được cái công phu và đóng góp của những cây bút như Lê Nguyễn đối với việc nghiên cứu và truyền bá lịch sử dân tộc. Nói như vậy để thể hiện một sự trọng thị và khích lệ công việc của Lê Nguyễn cũng như nhiều cây bút khác đã tận tâm truyền bá tri thức lịch sử dân tộc bằng những bài viết nhỏ lẻ và dễ đọc này.

Theo tôi, cái làm nên sự hấp dẫn của lịch sử chính là sự chân thực và lẽ công bằng. Do vậy mà tôi mạnh dạn viết trên trang đầu sáchLời giới thiệu để khẳng định rằng, đây là một cuốn sách hấp dẫn.” – Nhà Sử học Dương Trung Quốc

du-hanh-qua-nhung-dinh-cao-tri-tue

Du Hành Qua Những Đỉnh Cao Trí Tuệ

Du Hành Qua Những Đỉnh Cao Trí Tuệ

Sách Du hành qua những đỉnh cao trí tuệ” là một tập bút ký về văn chương và triết lý, lướt nhanh qua các tác giả kinh điển thế giới, kể từ thời Trung cổ và Phục hưng cho đến thời hiện đại, thậm chí từ Euclide (năm 300 trước Công nguyên) cho đến Jean-Francois Lyotard, thuộc triết học hậu hiện đại.

Đây là những nét chấm phá về một số gương mặt lớn, tiêu biểu trong lịch sử văn hóa phương Tây, được xem là những cột mốc quan trọng trên hành trình tri thức, được tập hợp theo

hai chủ đề: Văn học và Triết học. Mặc dù không phải là một khảo luận có tính hệ thống về hai chủ đề này, nhưng cuốn sách đã phác họa đầy đủ chân dung văn hóa cùng thành tựu cơ bản của từng tác giả và ảnh hưởng của họ đối với lịch sử tư tưởng cũng như đối với đời sống tri thức đương đại.
Nhà sách Tuấn Minh giới thiệu bạn đọc.
loi-khuyen-chan-thanh-cua-dao-su

Lời Khuyên Chân Thành Của Đạo Sư

Lời Khuyên Chân Thành Của Đạo Sư

loi-khuyen-chan-thanh-cua-dao-su

loi-khuyen-chan-thanh-cua-dao-su

Cuốn sách Lời khuyên chân thành của đạo sư cung cấp một cái nhìn tổng quan về các chủ đề Phật giáo căn bản, trong những phân đoạn ngắn dễ tiếp thu, nhưng lại soi sáng những nguyên lý chính yếu của quá trình tu tập Phật giáo. Lama Dudjom Dorjee dẫn dắt độc giả trên con đường tu tập, nêu bật những điểm cốt lõi, đồng thời trình bày những phương cách thiết thực để áp dụng trí huệ Phật giáo vào đời sống hiện đại.

Sách Lời khuyên chân thành của đạo sư là một

hướng dẫn tuyệt vời cho người tu tập Phật pháp.  Bất kỳ ai tiếp xúc với tuyển tập bao hàm toàn diện các giáo lý Phật giáo chủ chốt này sẽ nhận được món quà là trí huệ vô giá.
tro-chuyen-voi-hien-the

Trò Chuyện Với Hiện Thể

Trò Chuyện Với Hiện Thể

tro-chuyen-voi-hien-the

tro-chuyen-voi-hien-the

Jiddu Krishnamurti (1895  – 1986) sinh ra trong một gia đình Bà la môn tại Ấn Độ, được nuôi dưỡng dưới sự giám hộ của những nhà lãnh đạo Hội Thông Thiên Học  lúc đó tin rằng ông sẽ trở thành một vị đạo sư trong tương lai. Nhưng Krishnamurti đã khẳng định mình không thuộc bất cứ quốc tịch, tầng lớp, tôn giáo hay trường phái triết học nào, và dành suốt quãng đời còn lại đi khắp thế giới như một nhà diễn thuyết độc lập.

Krishnamurti là tác giả của rất nhiều sách, một khối lượng đồ sộ các bài nói và thảo luận của ông cũng được xuất bản. Ở tuổi 90, Krishnamurti đã diễn thuyết tại Liên Hợp Quốc về chủ đề hòa bình và nhận thức, và được trao tặng Huân chương Hòa bình của Liên Hợp Quốc năm 1984. Buổi nói chuyện trước công chúng cuối cùng của ông diễn ra tại Madras, Ấn Độ, tháng 1 năm 1986, một tháng trước khi ông qua đời tại Ojai, California.
Cuộc sống và những lời dạy của Krishnamurti trải dài trong phần lớn thế kỷ 20. Ông được tôn vinh là một trong những người có ảnh hưởng sâu sắc đến ý thức nhân loại trong thời hiện đại.

Cuốn sách trò chuyện với hiện thể này là duy nhất, bởi nó là một ấn phẩm của J.Krishnamurti được ông nói trực tiếp vào máy ghi âm những khi hoàn toàn cô độc. Lúc đó, tay ông phần nào bị run (ông đã 87 tuổi), vậy thay vì viết, ông ghi âm lời nói của mình. Sau khi từ Ấn Độ về lại California vào tháng 2 năm 1983, ông bắt đầu “Trò chuyện với hiện thể”.

Tất cả các bài, ngoại trừ một bài, đều được thực hiện tại nhà ông ở Pine Cottage thuộc Ojai

Valley, cách Los Angeles tám mươi dặm về phía bắc. Nhiều lúc giọng nói của ông trở nên xa xôi nhưng những ý tưởng lại rất gần Krishnamurti trong tinh thần của chính ông.Mỗi ngày đối với ông là hoàn toàn mới,nhà sách online hoàn toàn tự do tự tại thoát khỏi tất cả gánh nặng ký ức. Đoạn kết, có lẽ là đoạn kỳ diệu nhất, nói về sự chết. Đây cũng là lần cuối cùng, chúng ta được nghe Krishnamurti trò chuyện. Hai năm sau, ông từ trần cũng tại nơi này