sach-ban-ve-tu-do

BÀN VỀ TỰ DO

Khác với việc tiếp cận các học thuyết tư tưởng phương Đông, việc tiếp cận các trào lưu tư tưởng tinh hoa của phương Tây đối với độc giả Việt Nam đã và vẫn đang gặp phải không ít khó khăn. Không nói tới các nhà tư tưởng cổ đại như Socrates, Plato, Aristotle, v.v… mà ngay cả các nhà tư tưởng cận đại của phong trào Khai sáng, độc giả cũng hiếm có cơ hội để có được bản dịch các tác phẩm kinh điển quan trọng. Nhìn tổng thể, có thể nói các sách biên khảo khoa học và các học thuyết quan trọng của phương Tây vẫn chưa được giới thiệu một cách nghiêm túc và hệ thống ở Việt Nam.

Khoảng trống về đề tài quan trọng này là điều bất lợi lớn với một đất nước đang muốn xây dựng nền kinh tế tri thức và mở rộng quan hệ kinh tế, khoa học kỹ thuật và văn hoá với các nước phát triển. Trên tinh thần mong muốn truyền tải những tư tưởng đó, bồi đắp thêm những khoảng trống về tri thức còn thiếu hụt, chúng tôi xin giới thiệu với độc giả bản dịch luận văn Bàn về tự do (On Liberty – 1859) của John Stuart Mill qua bản dịch của Nguyễn Văn Trọng.

Mặc dù được viết ra cách đây đã gần 150 năm nhưng Bàn về tự do vẫn còn nguyên giá trị và là tác phẩm giữ vị trí quan trọng trong tư duy lý luận và tư tưởng phương Tây. Thời Canh tân Minh Trị ở Nhật Bản và thời Phong trào Ngũ Tứ ở Trung Quốc, hai nước đã cho dịch và phát hành rộng rãi cuốn sách này để mở mang tri thức cho dân tộc.

Là một trong những tác phẩm đầu tiên của Tủ sách Tinh hoa Tri thức Thế giới, bản dịch Bàn về tự do đã hân hạnh được GS. TS. Nguyễn Trọng Chuẩn, nguyên Viện trưởng Viện Triết học Việt Nam và dịch giả Bùi Văn Nam Sơn đọc thẩm định và đóng góp nhiều ý kiến. Ngoài ra, để thuận tiện hơn cho độc giả mới làm quen với các tác phẩm của John Stuart Mill, ngoài lời giới thiệu của GS. TS. Nguyễn Trọng Chuẩn, chúng tôi có trình bày phần tóm tắt tác giả – tác phẩm của dịch giả ở phần phụ lục.

Chúng tôi mong rằng Bàn về tự do sẽ là một nguồn tư liệu tham khảo tốt cho các nhà nghiên cứu Việt Nam trên con đường tìm hiểu những tư tưởng lớn của thế giới.

sach-loi-moi-den-voi-xa-hoi-hoc

LỜI MỜI ĐẾN VỚI XÃ HỘI HỌC – MỘT GÓC NHÌN NHÂN VĂN

) Tác giả
Peter L. Berger (1929): Là người Mĩ gốc Áo, Giáo sư xã hội học tại trường Đại học New School for Social Research, Đại học Rutgers và Đại học Boston (Mĩ). Lĩnh vực học thuật chính của ông là xã hội học về tôn giáo, xã hội học về nhận thức và lí thuyết xã hội học.

2) Tác phẩm

Khác với nhân học, nhà xã hội học không đi tìm hiểu những xã hội khác lạ, mà thường say mê với cái quen thuộc. Đôi khi các nhà xã hội học khảo sát những thế giới mà trước đây họ chưa biết, như các khu ghetto nội đô, các giáo phái, hay thế giới riêng tư đằng sau tiền cảnh của các bác sĩ phẫu thuật, tướng lĩnh quân sự v.v. Song các nhà xã hội học cũng thường khảo sát những lĩnh vực hành vi vốn quen thuộc đối với họ và với hầu hết những người trong xã hội của họ, thông qua hoặc kinh nghiệm trực tiếp hoặc qua báo chí. Sự độc đáo là nhãn quan xã hội học giúp ta nhìn cái đã quen thuộc – thậm chí nhàm chán – dưới một ánh sáng mới mẻ và thanh tân. Đấy chính là niềm vui và sự hào hứng mà xã hội học mang lại. “Đó không phải là sự hào hứng khi đến một nơi hoàn toàn mới lạ, mà đúng hơn là sự hào hứng trong việc tìm ra rằng cái quen thuộc đã mang một ý nghĩa khác hẳn. Sức quyến rũ mê hồn của xã hội học là ở thực tế này: cách nhìn của nó khiến cho ta thấy được chính cái thế giới mà suốt đời chúng ta đã và đang sống dưới một ánh sáng mới”. Các nhà xã hội học nỗ lực tiếp cận cái thế giới mà chúng ta coi là đương nhiên, và xem nó như thể đó là một lĩnh vực mới, chưa hề được khám phá. Họ nhìn sâu xa hơn những động cơ và lí giải chính thức mà người ta đưa ra về niềm tin và hành vi của mình.

3)Trích dẫn
… Cuốn sách này viết ra là để đọc chứ không phải để nghiên cứu. Nó không phải một cuốn giáo trình hay một nỗ lực xây dựng hệ thống lí thuyết. Nó là một lời mời đến với một thế giới trí tuệ mà tôi coi là cực kì tuyệt diệu và có ý nghĩa. Đưa ra lời mời như thế thì cần nêu rõ cái thế giới mà độc giả được mời vào, nhưng hiển nhiên là độc giả sẽ phải đi xa hơn là đọc cuốn sách này nếu như anh ta định tiếp nhận lời mời này một cách nghiêm túc.
(Trích « Lời tựa», Lời mời đến với xã hội học – Một góc nhìn nhân văn, Peter L. Berger, NXB Tri Thức 2016)

Nhà sách Kinh Tế Tuấn Minh trân trọng giới thiệu bạn đọc.

nang-doan-kim-cuong

Năng đoạn Kim Cương

Năng đoạn Kim Cương

Cuốn sách này là sự kết hợp độc đáo và kỳ ảo giữa trí tuệ của Phật giáo Tây Tạng áp dụng vào hoạt động kinh doanh, Năng đoạn kim cương mang đày tính triết lý thâm sâu và vô cùng cần thiết cho sự thành công của một doanh nghiệp, một doanh nhân.

Ẩn dấu trong Năng đoạn Kim Cương là một trí tuệ uyên bác được Michael Roach diễn giãi với những lý luận sắc bén và những dẫn chứng sinh động từ cuộc đời của chính ông – một vị sư đã được nhận bằng  Cao học Phật giáo (bằng Geshe) và cũng là một giám đốc của một công ty kim cương lớn trong nhiều năm.
Cuốn sách vạch rõ 3 bước để đạt được sự thịnh vượng đó bao gồm:
Mục tiêu 1: Làm ra tiền – thế giới của tiềm năng và các dấu ấn trong tâm.
 Mục tiêu 2: Thọ hưởng tiền bạc hay điệu ngự thân tâm – Bí quyết để đạt được sự thịnh vượng bên trong bằng cách đạt được sự cân bằng giữa thân và tâm, sức khỏe thể chất và tinh thần.
Mục tiêu 3: Nhìn lại và biết rằng thế là đủ – Tìm thấy suối nguồn thực sự của thịnh vượng và nhìn lại để hiểu rằng tất cả những cố gắng của bạn đã đạt được 1 ý nghĩa nào đó.
Khi đọc cuốn sách này, cũng “giống như bạn bước vào một khu vườn để chỉ tìm một bông hoa và rời đi với những vật báu mà ta ko thể tưởng tượng được khi bước vào!” – Đó là một 1 cuốn sách về Trí Tuệ Toàn Hảo.
Về tác giả
Michael Roach là một vị sư Phật giáo đã được thọ Đại giới Tỳ-kheo, đã nhận được bằng geshe (cao học Phật học) từ tu viện Tây Tạng Sera Mey sau hai mươi năm tu học. Là một vị thầy môn Phật học từ năm 1981, ông còn là một học giả về Phạn ngữ, Tạng ngữ và Nga ngữ, và đã có rất nhiều tác phẩm dịch. Ông đã nhận bằng cử nhân tại Đại học Princeton và đã làm việc ở New York với tư cách là giám đốc một công ty kim cương lớn trong nhiều năm. Ông đã sáng lập và điều hành Viện cổ học Châu Á (Asian Classics Institute) cũng như Dự án Nhập liệu Cổ học Châu Á (Asian Classics Input Project) và rất tích cực trong việc trùng tu Tu viện Sera Mey.
Nhân học chính trị

Nhân học chính trị

Nhà sách Tuấn Minh giới thiệu bạn đọc.

Nhân học chính trị

II. GIỚI THIỆU SÁCH

1. Về tác giả

Georges Balandier (1920) là Giáo sư danh dự Đại học Tổng hợp Paris Decarstes và Trường cao học thực hành. Ông là tác giả của nhiều công trình uy tín về xã hội học và nhân học.

2. Về tác phẩm

Lời giới thiệu

Cuốn sách này nhằm tới việc thỏa mãn một loạt đòi hỏi. Nó được dành cho nhân học chính trị, một chuyên ngành ra đời muộn của nhân học xã hội, nhằm giới thiệu mang tính phê phán các lí thuyết, các phương pháp và các kết quả của chuyên ngành này. Từ phương diện này, đây là công trình đầu tiên đề xuất một sự tổng hợp, một sự thử nghiệm suy tư một cách tổng thể về các xã hội chính trị – vốn xa lạ đối với lịch sử Phương Tây – đã được các nhà nhân học vén lộ. Vị thế khó khăn này tiềm ẩn những mối nguy có thể mắc phải; chúng có thể nảy sinh vì mọi tri thức khoa học trong quá trình tạo dựng đều phải chấp nhận ở vào thế dễ bị phê phán và một phần nào đó trở thành vấn đề gây tranh cãi. Một công trình kiểu này chỉ có thể thực hiện dựa vào những thành tựu đã đạt được, trong những thập kỉ vừa qua, theo hướng tập trung vào những điều tra trực tiếp, là những nghiên cứu đã mở rộng tập hợp các hệ thống chính trị “ngoại lai”, và những nghiên cứu lí thuyết mới đây nhất. Các nhà nhân học và xã hội học chuyên nghiên cứu Châu Phi đã có đóng góp lớn cho công việc này; điều này được chứng thực bởi chính số lượng những dẫn cứ các nghiên cứu của họ.

Công trình này cũng mong muốn chứng minh những đóng góp của nhân học chính trị đối với các nghiên cứu nhằm vào một sự xác định giới hạn rõ hơn, và một sự hiểu biết tốt hơn về trường chính trị. Nó định nghĩa một phương thức định vị, và như vậy là đem lại một câu trả lời cho sự phê phán của các chuyên gia vốn trách cứ các nhà nhân học chính trị là đã định hướng nỗ lực của họ vào một đối tượng không được xác định rõ. Công trình xem xét mối quan hệ của quyền lực với các cấu trúc cơ sở đem lại cho nó bệ đỡ đầu tiên, với các phân tầng xã hội làm cho nó trở nên cần thiết, với những nghi lễ đảm bảo cho sự bám rễ của nó trong cái thiêng và can thiệp vào các chiến lược của nó. Công việc này không thể soi tỏ vấn đề Nhà nước – và nó xem xét tỉ mẩn các đặc điểm của Nhà nước truyền thống -, song nó cho thấy ở mức độ nào thì cần thiết phải phân tách lí thuyết chính trị với lí thuyết về Nhà nước. Nó chỉ ra rằng toàn bộ các xã hội loài người [đều] sản sinh ra [cái] chính trị và toàn bộ chúng đều đối mặt với những thăng trầm của lịch sử. Đồng thời, những bận tâm của triết học chính trị cũng được nhìn nhận lại và theo một cách nhất định được làm mới ở đây.

Giới thiệu như vậy về nhân học chính trị không loại trừ việc xác định quan điểm lí thuyết. Ngược lại, đây chính là cơ hội để xây dựng một [chuyên] ngành nhân học năng động và mang tính phê phán trên một trong những địa hạt có vẻ là thuận hơn cả đối với việc kiến thiết nó. Theo nghĩa này, cuốn sách đề cập lại ở đây, với một mức khái quát hóa cao hơn, những bận tâm đã được xác định trong các nghiên cứu Châu Phi học của chúng tôi. Nó xem các xã hội chính trị không chỉ dưới khía cạnh các nguyên tắc chi phối tổ chức của chúng, mà còn trên cơ sở những hoạt động thực tiễn, những chiến lược và những thao túng mà chúng gây ra. Nó ghi nhận khoảng vênh tồn tại giữa các lí thuyết mà các xã hội sản sinh với hiện thực xã hội, chỉ là áng chừng và mong manh, được tạo ra từ hành động của con người – từ chính trị của họ. Do bản chất của đối tượng mà nó nghiên cứu, bởi những vấn đề mà nó xem xét, nhân học chính trị đã đạt được một hiệu quả mang tính phê phán không thể phủ nhận. Chúng tôi nhắc lại điều này với kết luận: chuyên ngành này giờ đã đạt được một hiệu lực công phá mà một số lí thuyết đã có vị thế vững chắc bắt đầu phải gánh chịu. Do vậy, nhân học chính trị góp phần vào việc làm mới tư duy xã hội học, một sự làm mới cần thiết do vận động của sự vật cũng như diễn tiến của các khoa học xã hội.

3. Mục lục

Lời giới thiệu                                                       

Chương 1: Kiến tạo nhân học chính trị

1. Ý nghĩa của nhân học chính trị

2. Xây dựng nhân học chính trị

3. Các phương pháp và
xu hướng của nhân học chính trị

Chương 2: Lĩnh vực chính trị

I. Các nhà tối đa luận và các nhà tối thiểu luận

2. Đối chiếu các phương pháp

3. Quyền lực chính trị và sự cần thiết

4. Các quan hệ và các hình thức chính trị

Chương 3: Quan hệ thân tộc và quyền lực

1. Quan hệ thân tộc và dòng họ

2. Năng động dòng họ

3. Các khía cạnh của “quyền lực phân nhánh”

Chương 4: Phân tầng xã hội và quyền lực

1. Trật tự và phụ thuộc

2. Các hình thức của phân tầng xã hội
và quyền lực chính trị

3. “Chế độ phong kiến” và quan hệ phụ thuộc

Chương 5: Tôn giáo và quyền lực

1. Nền tảng thiêng của quyền lực

2. Chiến lược cái thiêng và chiến lược quyền lực

Chương 6: Những khía cạnh của
Nhà nước truyền thống

I. Đặt câu hỏi về khái niệm Nhà nước

2. Những bất định trong nhân học chính trị

3. Các giả thuyết về nguồn gốc của Nhà nước

Chương 7: Truyền thống và hiện đại

1. Các tác nhân và khía cạnh
của biến đổi chính trị

2. Sự năng động của chủ nghĩa truyền thống
và của tính hiện đại

Kết luận: Những triển vọng của nhân học chính trị

Thư mục bổ sung

Từ nhà nước điều hành sang nhà nước kiến tạo phát triển

Từ Nhà Nước Điều Hành Sang Nhà Nước Kiến Tạo Phát Triển

Báo cáo Từ Nhà nước điều hành sang Nhà nước kiến tạo phát triển nhằm cung cấp những luận cứ khoa học, cả lý thuyết lẫn kinh nghiệm thực tiễn, để xây dựng những thể chế chính thức theo hướng thúc đẩy sự phát triển một nền kinh tế thị trường đầy đủ cho Việt Nam. Những thể chế chính thức này, một khi được hình thành, sẽ đóng vai trò xương sống để tạo dựng ra một nhà nước kiến tạo phát triển như nhiều lãnh đạo của Việt Nam từng mong muốn[1].

Báo cáo này là sản phẩm của nhóm các chuyên gia nghiên cứu độc lập đến từ bốn cơ quan nghiên cứu và tư vấn kinh tế có uy tín tại Hà Nội – Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM), Viện Kinh tế Việt Nam (VIE), Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), và Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) thuộc trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội – và từ một số cơ quan nghiên cứu khác. Nguồn tài chính cho Báo cáo được tài trợ bởi Viện Friedrich Naumman Vietnam.

III. Mục lục

Lời cảm ơn

Dẫn nhập

 

Chương 1. Xây dựng hệ thống chính trị

                        một đảng thống lĩnh thân thiện với

                        thị trường và xã hội dân sự                       

1.1. Dẫn nhập

1.2. Khung khổ lý thuyết về hệ thống chính trị hiệu quả,

thân thiện với thị trường và XHDS

1.2.1. Các cấu phần của thể chế chính trị

1.2.2. Vai trò của các thể chế chính trị trong nền kinh tế

thị trường

1.2.3. Tương tác giữa các thể chế chính trị để chế ngự

quyền lực của nhà nước

1.3. Mô hình hệ thống chính trị một đảng thống lĩnh: cơ sở

lý thuyết và thực tiễn một số nước

1.3.1. Phân loại các mô hình hệ thống chính trị

1.3.2. Mô hình hệ thống chính trị một đảng thống lĩnh:

thành công và thất bại

1.4. Đánh giá mức độ hiệu quả của hệ thống chính trị một

đảng thống lĩnh tại Việt Nam

1.4.1. Lịch sử phát triển hệ thống chính trị một đảng

thống lĩnh tại Việt Nam

1.4.2. Đánh giá tính hiệu quả của hệ thống chính trị của

Việt Nam hiện nay

1.4.3. Những vấn đề tồn tại và nguy cơ của hệ thống

chính trị một đảng thống lĩnh hiện nay ở Việt Nam

1.5. Thảo luận và khuyến nghị chính sách

Chương 2. Xây dựng và cải cách hệ thống thể chế

                        ổn định kinh tế vĩ mô  ở Việt Nam             

2.1. Dẫn nhập

2.2. Cơ sở lý thuyết về xây dựng thể chế ổn định vĩ mô

2.2.1. Tại sao phải xây dựng thể chế ổn định kinh tế vĩ mô?

2.2.2. Các cấu phấn chính của khung thể chế ổn định

kinh tế vĩ mô

2.2.3. Hình thức thể hiện của thể chế ổn định kinh tế vĩ mô

2.3. Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng thể chế ổn định vĩ mô

2.3.1. Xu hướng xây dựng khung thể chế ổn định vĩ mô

2.3.2. Kinh nghiệm xây dựng quy tắc tiền tệ

2.3.4. Kinh nghiệm xây dựng quy tắc tài khoá

2.3.4. Kinh nghiệm xây dựng quy tắc ổn định/giám sát

tài chính

2.3.5. Kinh nghiệm phối hợp chính sách tiền tệ, tài khoá

và giám sát tài chính

2.3.6. Bài học cho Việt Nam

2.4. Xây dựng thể chế ổn định vĩ mô cho Việt Nam

2.4.1. Bối cảnh kinh tế vĩ mô và hiện trạng khung khổ chính sách ổn định vĩ mô của Việt Nam

2.4.2. Xây dựng khung thể chế ổn định vĩ mô ở Việt Nam

2.5. Kết luận và khuyến nghị chính sách

 

Chương 3. XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH

                        LÀNH MẠNH, CÔNG BẰNG                                    

3.1. Dẫn nhập

3.2. Nhà nước kiến tạo với việc thiết lập và duy trì

môi trường cạnh tranh

3.2.1. Cơ sở lý thuyết kinh tế về môi trường cạnh tranh

3.2.2. Các khung khổ đánh giá môi trường cạnh tranh

từ góc độ chính sách, pháp luật

3.3. Pháp luật cạnh tranh của Việt Nam

3.3.1. Khung khổ pháp luật bảo đảm cạnh tranh

3.3.2. Các thiết chế thực thi pháp luật cạnh tranh

và thực tiễn hoạt động tại Việt Nam

3.4. Hệ thống chính sách cạnh tranh của Việt Nam

3.4.1. Các chính sách cạnh tranh liên quan tới việc

gia nhập thị trường

3.4.2. Các chính sách cạnh tranh liên quan đến hoạt động

của các chủ thể kinh doanh trên thị trường

3.4.3. Các chính sách cạnh tranh về sản phẩm

hàng hóa/dịch vụ ảnh hưởng tới hành vi/hiệu quả cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh

3.5. Kết luận và khuyến nghị chính sách

3.5.1. Các đề xuất sửa đổi pháp luật cạnh tranh

3.5.2. Các đề xuất cải thiện các thiết chế xử lý vi phạm

pháp luật cạnh tranh

3.5.3. Các đề xuất xây dựng chính sách cạnh tranh bình đẳng

 

Chương 4. Xây dựng hệ thống quyền tài sản

                        rõ ràng, hoàn chỉnh, và được bảo vệ

                        chắc chắn đối với tài sản công                

4.1. Dẫn nhập

4.2. Những vấn đề chung

4.2.1. Các khái niệm cơ bản

4.2.2. Kinh nghiệm xây dựng hệ thống quyền tài sản

đối với các nhóm tài sản công

4.3. Thực trạng quản lý tài sản công ở Việt Nam

4.3.1. Tổng quan về hệ thống quyền tài sản ở Việt Nam

4.3.2. Hệ thống quyền tài sản công đối với đất đai

4.3.3. Hệ thống quyền tài sản công đối với nguồn tài nguyên, môi trường

4.3.4. Quản lý các tài sản công khác

4.4. Đề xuất xây dựng khung khổ quản lý quyền tài sản công

cho Việt Nam

4.4.1. Tiếp tục hoàn thiện khung khổ chung về quản lý

quyền tài sản công

4.4.2. Khung khổ quản lý quyền tài sản của các nhóm

tài sản công

4.5. Kết luận và hàm ý chính sách

 

4) Dẫn nhập

Một trong những đồng thuận quan trọng nhất về mặt tư tưởng tại Việt Nam giữa những nhà làm chính sách, giới chuyên gia, và những người hoạt động thực tiễn trong những năm vừa qua là về vai trò của nền kinh tế thị trường trong đời sống kinh tế và xã hội. Khác với thái độ thù ghét và bài bác trong quá khứ, từ thực tiễn của 30 năm Đổi mới, kinh tế thị trường giờ đây được Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) chính thức công nhận như là động lực chính để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và xã hội.

Nhưng dường như sự thừa nhận về vai trò của nền kinh tế thị trường tại Việt Nam hiện nay vẫn có vẻ miễn cưỡng. Nó được chấp nhận chỉ sau khi mọi thử nghiệm về các mô hình kinh tế mang màu sắc kế hoạch hóa tập trung hoặc coi kinh tế tập thể/kinh tế nhà nước làm chủ đạo bị thất bại. Và bởi vì có tính miễn cưỡng nên rất có thể trong tương lai không xa, vai trò của kinh tế thị trường tại Việt Nam sẽ lại bị bài bác như đã từng xảy ra trong quá khứ. Vì lẽ đó, khi cơ chế thị trường đã có dấu hiệu được thừa nhận ở Việt Nam trong một vài năm gần đây, ngay cả khi miễn cưỡng đi chăng nữa, thì trách nhiệm của những người hiểu rõ tầm quan trọng của nó đối với sự thịnh vượng lâu bền của quốc gia dân tộc là phải thúc đẩy việc tạo ra những thể chế chính thức (formal institutions) đóng vai trò không chỉ như là những chốt chặn để bảo vệ nó mà còn là bệ đỡ để nó có cơ hội tỏa sáng. Chỉ khi cơ chế thị trường tự do được lựa chọn một cách duy lý chứ không phải tình cờ, được bảo vệ và được tạo cơ hội để phát huy sức mạnh của mình, và nếu như sau một loạt hành động có tính duy lý đó, nền kinh tế và xã hội Việt Nam đạt được những thành tựu phát triển bứt phá, thì nó mới thực sự có cơ hội trường tồn tại Việt Nam.

Báo cáo này nhằm cung cấp cơ sở lý thuyết cũng như kinh nghiệm thực tiễn của nhiều quốc gia trên thế giới để giúp Việt Nam có thể lựa chọn được một cách duy lý những thể chế chính thức cơ bản như vậy. Những thể chế này góp phần hình thành cái gọi là nhà nước kiến tạo phát triển, tức giúp Nhà nước Việt Nam thay đổi chức năng của mình trong quan hệ với thị trường, từ vị thế điều hành trực tiếp, bằng mệnh lệnh hành chính, các hoạt động kinh tế sang vị thế kiến tạo một môi trường phù hợp để nuôi dưỡng thị trường phát huy được hết sức mạnh của mình. …

 


[1] Tiêu đề của Báo cáo này được lấy từ bài phát biểu của nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào năm 2011 “Thủ tướng nêu nhiệm vụ của Chính phủ nhiệm kỳ mới”: “Cần thay đổi tư duy và cách tiếp cận khi xác định vai trò của nhà nước và mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường. Phải chuyển mạnh từ nhà nước điều hành nền kinh tế sang nhà nước kiến tạo phát triển. Trong nhà nước kiến tạo phát triển, chức năng của nhà nước là xây dựng quy hoạch phát triển theo một chiến lược công nghiệp hóa hiện đại hóa đúng đắn; tạo môi trường và điều kiện cho các thành phần kinh tế phát huy mọi tiềm năng trong môi trường cạnh tranh và hội nhập quốc tế; tăng cường giám sát để phát hiện các mất cân đối có thể xảy ra, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và an toàn hệ thống. “http://baochinhphu.vn/Tieu-diem/Thu-tuong-neu-nhiem-vu-cua-Chinh-phu-nhiem-ky-moi/95849.vgp [Truy cập ngày 07/05/2016].

Văn minh vật chất của người Việt

Văn Minh Vật Chất Của Người Việt

Đôi dòng về tác giả:

Phan Cẩm Thượng là họa sĩ, nhà nghiên cứu, phê bình mỹ thuật. Ông tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Việt Nam, ở lại trường giảng dạy. Phan Cẩm Thượng nổi tiếng với “lối vẽ cổ xưa, những bức tranh u uẩn, đầy cảm thức về đời sống làng quê, với những mặt người tưởng chừng như mê ngủ, xung quanh con người có sự hiện diện của thánh thần, trong mỗi con người, có sự hiện diện khác nhau của những tính cách”… Ông là tác giả của các cuốn sách được nhiều độc giả đón đọc và giới phê bình đánh giá cao như: Chùa Dâu và nghệ thuật Tứ pháp, Nghệ thuật ngày thường. 

Về tác phẩm:

Văn minh vật chất của người Việt là cuốn sách được đánh giá là hay và lạ. Nó là câu chuyện của các đồ vật do con người làm ra và sử dụng. Những đồ vật ấy làm nên cái thế giới vật chất nhân tạo mà ta sống trong đó, biến đổi nó và cùng tiến hóa với nó. Nhờ phương pháp khảo cứu và phong cách viết đặc sắc, người viết đã sắp xếp ngăn nắp, mạch lạc các chủ đề tưởng như sẽ quá dàn trải. Bằng văn phong linh hoạt, pha trộn khéo léo giữa cách viết nghiên cứu và cảm hứng nghệ sĩ, cuốn sách gần 700 trang trở nên nhẹ nhàng “dễ đọc”, không khô khan giáo huấn.

Minh triết thiêng liêng (Tập 1)

Minh Triết Thiêng Liêng (Tập 1)

Hamvas Béla sinh ngày 23.3.1897 tại Eperjes (nay thuộc Slovakia) trong một gia đình Thiên Chúa giáo. Năm 1898 vì nghề nghiệp của cha, gia đình ông chuyển đến Bratislava.

Năm 1915, sau khi tốt nghiệp trung học, Hamvas Béla tình nguyện gia nhập quân đội, sau một năm, bị thương, ông trở về nhà và bắt đầu đọc Kant, Rimbaud, Dostoiepxki, Schopenhauert, nhưng trước hết ông đọc Nietzsche.

Năm 1919, cha ông vì từ chối không tuyên thệ trung thành với nước Slovakia, nên cả gia đình ông bị đuổi ra khỏi Bratislava, chuyển đến Budapest.

Từ 1919-1923 ông học khoa Hungary-Đức tại Đại học Pazmány Péter, ông làm nhà báo 3 năm tại báo Tin tức Budapest Szozat.

Từ 1927-1948 ông làm thủ thư tại thư viện thành phố. Thời gian này ông viết các bài nghiên cứu, tiểu luận, các bài phê bình cho 25 thể loại tạp chí, trong đó có những tạp chí nổi tiếng như Athenaeum, Nyugat.

Hamvas Béla cùng Kerényi Károly thành lập nhóm Đảo, một liên minh tinh thần lấy từ truyền thống Hi Lạp cổ, nhóm này tập trung đông đảo các nhà văn, nhà triết học có tên tuổi của Hungary như: Szerb Antal, Németh László, Kövendi Dénes, Dobrovits Aladár, Molnár Antal và nhiều người khác.

Nhưng sau ấn phẩm gồm ba tập (1935-1936) nhóm Đảo tan rã, một hoạt động cộng đồng tinh thần như thế không thể thực hiện được. Hamvas Béla đã ghi lại những kinh nghiệm cay đắng trong cuốn Hyperion Hungary:

Tôi ở đây giữa mọi người, trên trái đất này, mọi ý định của tôi đều không có kết quả, mọi từ ngữ của tôi vô ích, mọi kế hoạch của tôi tan vỡ, tôi đã thất bại, không ai nhận ra tôi, tôi trở nên thừa thãi, và không được chấp nhận.”

Trong những năm 1930-1940 ông viết gần ba trăm tiểu luận. Đối với ông viết là thực hành yoga.

Ông lấy người vợ thứ hai, một bạn đời tinh thần rất quan trọng, bà Kemény Katalin (1909-2004), người sau khi Hamvas Béla mất, đã cùng Dúl Antal, một đại diện của hậu thế rất ngưỡng mộ ông, cùng chăm lo việc xuất bản các tác phẩm của ông.

Trong thời kì Thế chiến thứ II, Hamvas Béla ba lần bị gọi vào quân ngũ, nhưng không ngăn cản được công việc dịch thuật của ông, như tác phẩm của các tác giả: Lão Tử, Böhme, Hêraclit, Khổng Tử, Henoch.

Năm 1943-1944 ông viết tập I tác phẩm Scientia Sacra, cuốn sách đánh dấu giai đoạn sáng tác thứ hai của nhà văn. Với cuốn sách này, ông gia nhập trường phái truyền thống với những nhân vật ưu tú nhất của thời đại: Julius Evola, René Gúenon và Leopold Ziegler.

Hamvas Béla cắt nghĩa: Truyền thống là sự trường tồn phi thời gian của tinh thần. Các tác phẩm của Hamvas – đầu tiên và duy nhất – lập ra một vũ trụ truyền thống, bằng sự tạo dựng nền tảng linh hồn nhận thức ra tinh thần.

Trong thời kì chiến tranh, tập tiểu luận triết học đầu tiên ra đời: Câu chuyện vô hình (1943).

Năm 1964 ông về hưu. Trong ba năm cuối đời Hamvas Béla hoàn thành nốt các tác phẩm khác trong đó có Scientia Sacra tập II nổi tiếng.

Ông viết chủ yếu là tiểu luận, một thể loại tự do, như một thí nghiệm thể loại. Mọi sáng tác của ông, kể cả tiểu thuyết đều ở dạng tiểu luận.

Ngày 7.10.1968 ông mất sau một cơn chảy máu não.

Cho đến tận những năm 70 của thế kỉ XX, tác phẩm của Hamvas Béla chủ yếu chỉ lưu truyền dưới dạng bản thảo đánh máy.

Bắt đầu từ những năm 80, dần dần tác phẩm của Hamvas Béla được ra mắt công chúng, nhưng vẫn bị kiểm duyệt, ví dụ tiểu thuyết Karneval (1985) bị cắt xén trước khi được in.

Năm 1990, Hamvas Béla được truy tặng giải thưởng Kossuth.

Năm 1996: Giải thưởng Di Sản Hungary.

Năm 2001: Giải thưởng Vì Nghệ Thuật Hungary.

Ngày nay Hamvas Béla được đánh giá là một trong những nhà văn, nhà triết học vĩ đại nhất của châu Âu thể kỉ XX, và trong nền văn hóa Hungary.

Minh triết thiêng liêng (Tập 2)

Minh Triết Thiêng Liêng (Tập 2)

Hamvas Béla cùng Kerényi Károly thành lập nhóm Đảo, một liên minh tinh thần lấy từ truyền thống Hi Lạp cổ, nhóm này tập trung đông đảo các nhà văn, nhà triết học có tên tuổi của Hungary như: Szerb Antal, Németh László, Kövendi Dénes, Dobrovits Aladár, Molnár Antal và nhiều người khác.

Nhưng sau ấn phẩm gồm ba tập (1935-1936) nhóm Đảo tan rã, một hoạt động cộng đồng tinh thần như thế không thể thực hiện được. Hamvas Béla đã ghi lại những kinh nghiệm cay đắng trong cuốn Hyperion Hungary:

Tôi ở đây giữa mọi người, trên trái đất này, mọi ý định của tôi đều không có kết quả, mọi từ ngữ của tôi vô ích, mọi kế hoạch của tôi tan vỡ, tôi đã thất bại, không ai nhận ra tôi, tôi trở nên thừa thãi, và không được chấp nhận.”

Trong những năm 1930-1940 ông viết gần ba trăm tiểu luận. Đối với ông viết là thực hành yoga.

Ông lấy người vợ thứ hai, một bạn đời tinh thần rất quan trọng, bà Kemény Katalin (1909-2004), người sau khi Hamvas Béla mất, đã cùng Dúl Antal, một đại diện của hậu thế rất ngưỡng mộ ông, cùng chăm lo việc xuất bản các tác phẩm của ông.

Trong thời kì Thế chiến thứ II, Hamvas Béla ba lần bị gọi vào quân ngũ, nhưng không ngăn cản được công việc dịch thuật của ông, như tác phẩm của các tác giả: Lão Tử, Böhme, Hêraclit, Khổng Tử, Henoch.

Năm 1943-1944 ông viết tập I tác phẩm Scientia Sacra, cuốn sách đánh dấu giai đoạn sáng tác thứ hai của nhà văn. Với cuốn sách này, ông gia nhập trường phái truyền thống với những nhân vật ưu tú nhất của thời đại: Julius Evola, René Gúenon và Leopold Ziegler.

Hamvas Béla cắt nghĩa: Truyền thống là sự trường tồn phi thời gian của tinh thần. Các tác phẩm của Hamvas – đầu tiên và duy nhất – lập ra một vũ trụ truyền thống, bằng sự tạo dựng nền tảng linh hồn nhận thức ra tinh thần.

Trong thời kì chiến tranh, tập tiểu luận triết học đầu tiên ra đời: Câu chuyện vô hình (1943).

Năm 1964 ông về hưu. Trong ba năm cuối đời Hamvas Béla hoàn thành nốt các tác phẩm khác trong đó có Scientia Sacra tập II nổi tiếng.

Ông viết chủ yếu là tiểu luận, một thể loại tự do, như một thí nghiệm thể loại. Mọi sáng tác của ông, kể cả tiểu thuyết đều ở dạng tiểu luận.

Ngày 7.10.1968 ông mất sau một cơn chảy máu não.

Cho đến tận những năm 70 của thế kỉ XX, tác phẩm của Hamvas Béla chủ yếu chỉ lưu truyền dưới dạng bản thảo đánh máy.

Bắt đầu từ những năm 80, dần dần tác phẩm của Hamvas Béla được ra mắt công chúng, nhưng vẫn bị kiểm duyệt, ví dụ tiểu thuyết Karneval (1985) bị cắt xén trước khi được in.

Năm 1990, Hamvas Béla được truy tặng giải thưởng Kossuth.

Năm 1996: Giải thưởng Di Sản Hungary.

Năm 2001: Giải thưởng Vì Nghệ Thuật Hungary.

Ngày nay Hamvas Béla được đánh giá là một trong những nhà văn, nhà triết học vĩ đại nhất của châu Âu thể kỉ XX, và trong nền văn hóa Hungary.

 

Minh triết thiêng liêng (Tập 3)

Minh Triết Thiêng Liêng (Tập 3)

Hamvas Béla sinh ngày 23.3.1897 tại Eperjes (nay thuộc Slovakia) trong một gia đình Thiên Chúa giáo. Năm 1898 vì nghề nghiệp của cha, gia đình ông chuyển đến Bratislava.

Năm 1915, sau khi tốt nghiệp trung học, Hamvas Béla tình nguyện gia nhập quân đội, sau một năm, bị thương, ông trở về nhà và bắt đầu đọc Kant, Rimbaud, Dostoiepxki, Schopenhauert, nhưng trước hết ông đọc Nietzsche.

Năm 1919, cha ông vì từ chối không tuyên thệ trung thành với nước Slovakia, nên cả gia đình ông bị đuổi ra khỏi Bratislava, chuyển đến Budapest.

Từ 1919-1923 ông học khoa Hungary-Đức tại Đại học Pazmány Péter, ông làm nhà báo 3 năm tại báo Tin tức Budapest Szozat.

Từ 1927-1948 ông làm thủ thư tại thư viện thành phố. Thời gian này ông viết các bài nghiên cứu, tiểu luận, các bài phê bình cho 25 thể loại tạp chí, trong đó có những tạp chí nổi tiếng như Athenaeum, Nyugat.

Hamvas Béla cùng Kerényi Károly thành lập nhóm Đảo, một liên minh tinh thần lấy từ truyền thống Hi Lạp cổ, nhóm này tập trung đông đảo các nhà văn, nhà triết học có tên tuổi của Hungary như: Szerb Antal, Németh László, Kövendi Dénes, Dobrovits Aladár, Molnár Antal và nhiều người khác.

Nhưng sau ấn phẩm gồm ba tập (1935-1936) nhóm Đảo tan rã, một hoạt động cộng đồng tinh thần như thế không thể thực hiện được. Hamvas Béla đã ghi lại những kinh nghiệm cay đắng trong cuốn Hyperion Hungary:

Tôi ở đây giữa mọi người, trên trái đất này, mọi ý định của tôi đều không có kết quả, mọi từ ngữ của tôi vô ích, mọi kế hoạch của tôi tan vỡ, tôi đã thất bại, không ai nhận ra tôi, tôi trở nên thừa thãi, và không được chấp nhận.”

Trong những năm 1930-1940 ông viết gần ba trăm tiểu luận. Đối với ông viết là thực hành yoga.

Ông lấy người vợ thứ hai, một bạn đời tinh thần rất quan trọng, bà Kemény Katalin (1909-2004), người sau khi Hamvas Béla mất, đã cùng Dúl Antal, một đại diện của hậu thế rất ngưỡng mộ ông, cùng chăm lo việc xuất bản các tác phẩm của ông.

Trong thời kì Thế chiến thứ II, Hamvas Béla ba lần bị gọi vào quân ngũ, nhưng không ngăn cản được công việc dịch thuật của ông, như tác phẩm của các tác giả: Lão Tử, Böhme, Hêraclit, Khổng Tử, Henoch.

Năm 1943-1944 ông viết tập I tác phẩm Scientia Sacra, cuốn sách đánh dấu giai đoạn sáng tác thứ hai của nhà văn. Với cuốn sách này, ông gia nhập trường phái truyền thống với những nhân vật ưu tú nhất của thời đại: Julius Evola, René Gúenon và Leopold Ziegler.

Hamvas Béla cắt nghĩa: Truyền thống là sự trường tồn phi thời gian của tinh thần. Các tác phẩm của Hamvas – đầu tiên và duy nhất – lập ra một vũ trụ truyền thống, bằng sự tạo dựng nền tảng linh hồn nhận thức ra tinh thần.

Trong thời kì chiến tranh, tập tiểu luận triết học đầu tiên ra đời: Câu chuyện vô hình (1943).

Năm 1964 ông về hưu. Trong ba năm cuối đời Hamvas Béla hoàn thành nốt các tác phẩm khác trong đó có Scientia Sacra tập II nổi tiếng.

Ông viết chủ yếu là tiểu luận, một thể loại tự do, như một thí nghiệm thể loại. Mọi sáng tác của ông, kể cả tiểu thuyết đều ở dạng tiểu luận.

Ngày 7.10.1968 ông mất sau một cơn chảy máu não.

Cho đến tận những năm 70 của thế kỉ XX, tác phẩm của Hamvas Béla chủ yếu chỉ lưu truyền dưới dạng bản thảo đánh máy.

Bắt đầu từ những năm 80, dần dần tác phẩm của Hamvas Béla được ra mắt công chúng, nhưng vẫn bị kiểm duyệt, ví dụ tiểu thuyết Karneval (1985) bị cắt xén trước khi được in.

Năm 1990, Hamvas Béla được truy tặng giải thưởng Kossuth.

Năm 1996: Giải thưởng Di Sản Hungary.

Năm 2001: Giải thưởng Vì Nghệ Thuật Hungary.

Ngày nay Hamvas Béla được đánh giá là một trong những nhà văn, nhà triết học vĩ đại nhất của châu Âu thể kỉ XX, và trong nền văn hóa Hungary.

 

Tham do tiem thuc

THĂM DÒ TIỀM THỨC

CHI TIẾT SẢN PHẨM

I. THÔNG SỐ SÁCH

Tên sách: Thăm dò tiềm thức

Tác giả: Carl Gustav Jung

Dịch giả: Vũ Đình Lưu

Tủ sách: Tinh hoa

Số trang: 154

Khổ sách: 12 x 20cm

Giá sách: 45,000 VND

Năm xuất bản: 2016

II. GIỚI THIỆU SÁCH

1. Tác giả:

Carl Gustav Jung chào đời ở Kesswill, trên bờ hồ Constance phía Thuỵ Sĩ. Cha ông là một mục sư Tin lành, bởi vậy đã có ảnh hưởng tinh thần đến tác phẩm của ông. Họ đến ở gần Schloss-Laufen, bên bờ thác nước sông Rhin, rồi ở gần Bâle, thành phố nơi chàng thanh niên Carl Gustav học tập và nhận chức vị  thầy thuốc. Jung tự đặt ra cho mình, ngay từ những năm đầu, câu hỏi kép vốn chế ngự cuộc sống của ông: “Thế giới là gì và ta là ai?”và, mặc dù sự tò mò mãnh liệt đưa ông về phía hiện thực bên ngoài, nhưng ông dự đoán rằng câu trả lời nằm ở bên trong ông chứ không phải bên ngoài. Đối với ông, Thiên Chúa giáo và khái niệm về một Thượng đế toàn ái không đủ để giải đáp thoả đáng những vấn đề ấy. Tâm thần học có vẻ như đã tặng ông một phương tiện để tiếp cận tổng thể con người. Để cho những nghiên cứu của mình được trọn vẹn, ông vào Burghölzli, bệnh viện tâm thần của tổng Zurich, nơi ông là học trò của Eugen Bleuler. Sau khi bảo vệ luận án về “bệnh học tâm thần của những hiện tượng được gọi là bí ẩn” (1902), ông chuẩn bị cho việc xuất bản đầu tiên: nghiên cứu về liên tưởng (1903) và sự sa sút trí tuệ sớm (1907). Jung nỗ lực vượt qua thái độ chỉ thuần tuý mô tả căn bệnh tinh thần và cố gắng hiểu nội tâm.

Những công trình của Freud khiến ông chú ý, ông gắn bó với tác giả của cuốn Giải mộnglibido) giới hạn cho nhu cầu của một học thuyết ở xung năng tình dục. Ông cũng ngờ vực thuyết của Freud về môn cận tâm lý học (parapsychologie) và khoa thần thoại học so sánh (mythologio comparée), thế rồi sự rạn vỡ giữa hai con người trở nên không thể tránh khỏi sau khi cuốn Những biến thái và biểu tượng của libido (1912) được xuất bản. Cũng chính trong thời kỳ này, Jung đến ở Küsnacht, gần Zurich, bên bờ hồ, nơi ông hành nghề cho đến lúc mất, rời bỏ chức vị Privatdozent ở đại học Zurich. Chỉ từ đó trở đi và trong việc nghiên cứu theo một định hướng, ông mới cảm thấy rằng, để khám phá thế giới bên ngoài, ông cần phải đương đầu với thế giới tăm tối trong chính bản thân mình. bằng một tinh thần nhiệt thành kéo dài bảy năm, đến nỗi Freud muốn chọn ông làm người kế nghiệp. Nhưng hệ tư tưởng của bậc đàn anh càng ngày càng xa cách ông: Jung không thể chấp nhận một quan niệm về năng lực tâm thần.

2. Tác phẩm:

Thăm dò tiềm thức là một trong những văn bản diễn đạt tư tưởng Jung sáng sủa nhất, giản dị nhất và tổng hợp nhất. Nó còn làm ta xúc động khi biết rằng đó chính là văn bản cuối cùng của cả một công trình quy mô to lớn trải dài gần sáu chục năm và vượt quá con số một trăm năm mươi “đầu sách” lớn nhỏ với tầm quan trọng dẫu sao thì cũng không sàn sàn như nhau. Cuốn sách này được Jung hoàn thành mười ngày trước khi ngã bệnh, rồi tiếp đó là cuộc ra đi mãi mãi hồi tháng Sáu năm 1961 của nhà tư tưởng tiếng tăm này.

Thoát khỏi ảnh hưởng của Freud bằng cách thừa nhận các lực tinh thần phi tình dục dẫn dắt libido (dục tính), Carl Jung đã khiến người ta phải nhớ tới ông bên cạnh cái tên vĩ đại của Freud. Thăm dò tiềm thức là một bước nhảy phi thường khỏi sự câu thúc độc đoán của Freud, khám phá những khía cạnh hoang đường ở những chi tiết tế nhị nhất trong đời sống nội tâm của chúng ta. Không chỉ tập trung vào bệnh học tâm thần và các dấu hiệu của nó, nhà phân tích tâm lý người Thuỵ Sĩ này còn nghiên cứu cả những giấc mơ và thế giới biểu tượng của nó, thần thoại và những cổ mẫu (archétype) để xác định những “gen” tinh thần của con người.

Đôi khi ông phải đánh đổi cách trình bày dễ hiểu cho cách thức sâu sắc hơn (đương nhiên là phức tạp và khó hiểu hơn), nhưng điều đó cũng khó làm nản lòng người đọc (kể cả những độc giả thông thường). Jung cho rằng libido (năng lượng của cái vô thức) vượt cao hơn sex (tình dục). Không bao giờ phủ nhận cách nhìn nhận sáng suốt có tính chất quyết định của Freud về lịch sử và những tưởng tượng tình dục, Jung đi ra ngoài những vấn đề đó và kể cho chúng ta một câu chuyện thần thoại có tính chất dự báo: cái libido trở thành một người hùng, trốn khỏi sự giam cầm, thực hiện những chuyến phiêu lưu kỳ thú trong thế giới, nhưng luôn trở về với cội nguồn sức mạnh của nó – cái Vô thức – trong những giấc mơ và trí tưởng tượng.

Với Jung, “sự hiểu biết ngày nay về cái tiềm thức chứng minh rằng đó là một hiện tượng tự nhiên và cũng như thiên nhiên, ít ra nó có tính chất trung lập. Nó chứa đựng tất cả các khía cạnh của bản chất nhân loại, ánh sáng và bóng tối, vẻ đẹp và vẻ xấu, thiện tính và ác tính, sâu sắc và ngu muội. Sự nghiên cứu biểu tượng cá nhân cũng như biểu tượng tập thể là một công việc to tát và khó khăn, người ta chưa nắm vững được manh mối. Nhưng dầu sao người ta cũng bắt đầu nghiên cứu. Những kết quả đầu tiên thật đáng khích lệ, hình như chúng báo trước rằng sẽ mang lại nhiều lời giải đáp vẫn được mong đợi cho nhiều vấn đề đặt ra với nhân loại ngày nay”.

 

3. Mục lục

I – Sự quan trọng của giấc mơ

II – Quá khứ và tương lai trong tiềm thức

III – Cơ năng của giấc mơ

IV – Phân tích giấc mơ

V – Vấn đề chia loại người về phương diện tâm lý học

VI – Nói về siêu tượng (Archetype) trong biểu tượng giấc mơ

VII – Linh hồn loài người

VIII – Vai trò của biểu tượng

IX – Lập lại mối liên hệ giữa tiềm thức và ý thức

CHUYỆN PHIẾM SỬ HỌC

CHUYỆN PHIẾM SỬ HỌC

“Tạ Chí Đại Trường là một nhà sử học có tính độc lập và phong cách riêng trong nghiên cứu lịch sử. Ông có những công trình nghiên cứu sâu sắc trên phương pháp luận sử học nghiêm túc mà tiêu biểu là Lịch sử nội chiến Việt Nam từ 1771 đến 1802. Các tác phẩm của Tạ Chí Đại Trường mang nặng tính suy ngẫm lịch sử, gần như một thứ triết lý lịch sử, như Những bài dã sử Việt, hay Thần, người và đất Việt. Tạ Chí Đại Trường luôn nhìn lịch sử Việt Nam với tấm lòng của một con người Việt Nam.”
– GS Phan Huy Lê
“Khi chúng ta đọc các tác phẩm của Tạ Chí Đại Trường, chúng ta thấy có một sự tìm kiếm sự thật rất là công phu, có sự nhận định và lý luận rất thẳng thắn. Nó khác với các quan điểm của các sử quan ngày trước, và đến mãi sau này nữa, là dùng lịch sử như là một dụng cụ để củng cố chế độ đương quyền…”
– Nguyễn Gia Kiểng
“Tạ Chí Đại Trường còn là một ngòi bút thực thụ. Mỗi tác phẩm lịch sử của ông đều thật sự là một tác phẩm văn học đáng giá…”
– Nguyên Ngọc
CHẾ NGỰ KHỦNG HOẢNG TUỔI THÀNH NIÊN

CHẾ NGỰ KHỦNG HOẢNG TUỔI THÀNH NIÊN

CHI TIẾT SẢN PHẨM

I. THÔNG SỐ SÁCH

Tên sách: Chế ngự khủng hoảng tuổi thành niên ­­

Tác giả: Alexandra Robbins

Dịch giả: Trần Nguyên

Số trang: 404 trang

Khổ sách: 13×20,5 cm

Loại sách: bìa mềm

Giá bìa: 100.000 VNĐ

Nhà xuất bản Tri thức: 2016

 

II. GIỚI THIỆU SÁCH

I. Tác giả:

Alexandra Robbins (sinh năm 1976) là một nhà báo, giảng viên, và nhà văn. Sách của bà tập trung vào đối tượng thanh niên, vào giáo dục và cuộc sống trong trường đại học hiện đại cùng các khía cạnh thường bị bỏ qua hoặc coi nhẹ bởi những người quản lí. Ba trong số năm cuốn sách của bà đã lọt vào danh mục sách bán chạy nhất của New York Times.

Là tác giả có sách bán chạy nhất dựa trên số liệu của New York Times, Alexandra Robbins thường xuyên trao đổi về các vấn đề của tuổi hai mươi và ba mươi. Để sắp xếp các buổi diễn thuyết, hãy liên hệ với bà tại www.alexandrarobbins.com.

Các sách đã xuất bản của Robbin bao gồm Pledged: The Secret Life of Sororities (Đã được kiểm chứng: Cuộc Sống Bí mật của các Hội Nữ sinh), 2004; Secrets of the Tomb: Skull and Bones, the Ivy League, and the Hidden Paths of Power (Bí mật Mồ mả: Sọ và Xương, Liên đoàn Ivy, và Những Lối đi Ngầm của Quyền lực) , 2002, và Quarterlife Crisis: The Unique Challenges of Life in Your Twenties (Khủng Hoảng Tuổi Thành Niên: Các Thử thách Kỳ lạ của Cuộc sống Tuổi Hai mươi), 2001. Vốn là nhân viên cũ của The New Yorker, những bài viết của Robbins đã được đăng trên nhiều ấn phẩm, bao gồm Vanity Fair, The New Yorker, The Atlantic Monthly, The Washington Post, Teen Vogue, Chicago Tribune, Cosmopolitan, PC và USA Today.

Robbins thường xuyên xuất hiện trên các phương tiện truyền thông cả nước trong các chương trình như “60 Minutes”, “The Today Show”, “The Oprah Winfrey Show”, “The Early Show” của CBS, “Paula Zahn Now”, “The Diane Rehm Show”, và các chương trình truyền hình như CNN, NPR, BBC, VH1, MSNBC, CNBC, C-SPAN, và History Channel.

II. Tác phẩm:

Ba năm trước, một cuốn sách nhỏ có tên Khủng Hoảng Tuổi Thành Niên đã bất ngờ gây được tiếng vang. Cuốn sách miêu tả những cảm giác e ngại và do dự gây ra cho những người tuổi hai mươi, đang trong quá trình bước vào tuổi trưởng thành. Nó thảo luận về sự hoang mang và lạc lối mà những người ở tuổi hai mươi đang cảm nhận, chủ yếu vì không có định hướng nào cho những năm tháng này, không có cuốn cẩm nang đem tới các câu trả lời. Nó than phiền về sự thiếu vắng một cuốn sách hướng dẫn – với các giải pháp để vượt qua sự đấu tranh trong độ tuổi này một cách thành công và thỏa đáng.

 

Chế Ngự Khủng Hoảng Tuổi Thành Niên chính là cuốn cẩm nang đó.

Cuốn sách mới này được viết ra cho tất cả những người tuổi hai mươi và ba mươi, bất kể giới tính, tình trạng tài chính, màu da, địa vị cũng như vị trí địa lí. Nó bao gồm lời khuyên của những người đã từng học đại học, cũng như những người chưa từng học; những người lao động trí óc, những người lao động tay chân, và những người không hề lao động; những người có tiền, lẫn những người đang mắc nợ sáu con số; những người có khá ít nghĩa vụ và những bậc phụ huynh độc thân với vô số trách nhiệm; những người đang bên bờ vực trầm cảm và những người cảm thấy mình tương đối ổn. Chế Ngự Khủng Hoảng Tuổi Thành Niên tập trung vào mối liên kết chung giữa những người ở độ tuổi chúng ta: các câu tự vấn, sâu sắc, khiến chúng ta mất ngủ; các câu hỏi khó khăn, nặng nề mà đôi khi chúng ta quá sợ để hỏi chính bản thân mình

Đời sống xã hội Việt Nam đương đại (Tập 2)

ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI – TẬP 2

Xã hội Việt Nam trong bối cảnh đương đại đang tiến vào một hành trình chuyển di mạnh mẽ với quá trình phát triển của nền kinh tế công nghiệp. Hiện tượng chuyển di ấy có lẽ được thể hiện rõ nét nhất qua những dòng người di cư vào các khu đô thị hiện đại. Kết quả là những dòng người này đã nhanh chóng tiếp nhập vào bản thân mình những đặc điểm của môi trường đô thị và sớm trở thành lực lượng lao động giữ vai trò chủ chốt trong quá trình sản xuất. Chúng ta sẽ nhìn nhận sự kiện chuyển hóa cơ cấu xã hội và tâm tính cộng đồng này như thế nào? Ở góc độ quan sát tổng thể, chúng ta thừa nhận rằng, trong cuộc mưu sinh ở nơi phố thị, đời sống của họ không luôn là màu hồng. Họ phải đối diện với rất nhiều khó khăn và rủi ro trong cuộc sống hằng ngày. Từ những rủi ro trong công việc như: thất nghiệp, bệnh tật, tai nạn lao động, v.v… cho đến những định kiến xã hội, văn hóa đã khiến cho cuộc sống của những người nhập cư vốn vất vả càng trở nên ngột ngạt, bức bách. Và để duy trì sự tồn tại của mình, trong điều kiện nghèo nàn như chúng ta đã thấy trên nhiều phương diện: vật chất, tinh thần, tri thức, vốn xã hội, v.v… buộc họ phải tìm mọi cách để xoay xở. Cũng vậy, trên bình diện tương quan xã hội, những người lao động nhập cư này dễ trở thành nạn nhân của những định kiến và kỳ thị về mặt xã hội do sự khác biệt văn hóa, ngôn ngữ hay ứng xử của họ và trở thành những người thiểu số ở đô thị. Tuy nhiên, ở một góc độ khác, nếu chúng ta bước vào trong cõi sống của họ, chúng ta sẽ bắt gặp một hình ảnh khác về những người thiểu số này. Họ không cam chịu trước những sức ép của cuộc sống, trái lại họ luôn tìm kiếm những phương cách khác nhau để cải thiện hay thay đổi hoàn cảnh sống của chính mình.

Trong viễn ảnh đó, tiếp cận về người thiểu số ở đô thị không chỉ đòi hỏi nhà nghiên cứu diễn giải từ các quan điểm trừu tượng, có sẵn mà còn đòi hỏi nhà nghiên cứu phải hòa mình vào trong cuộc sống của cộng đồng để có thể hiểu và trải nghiệm những thực hành văn hóa và các quan điểm cá nhân của chính chủ thể mà nhà nghiên cứu đang tương tác. Đây cũng là chủ đề đã được bàn luận trong tập một của tuyển tập Đời sống xã hội Việt Nam đương đại với chủ đề Tình cảnh sống của người công nhân: Thân phận, rủi ro và chiến lược sống. Tiếp nối dòng chủ lưu này, tập hai của tuyển tập với chủ đề Người thiểu số ở đô thị sẽ được các nhà nghiên cứu khai triển và cho phép định hình một quan điểm tiếp cận khác so với các quan điểm nghiên cứu về người thiểu số lâu nay trong giới học thuật Việt Nam. Đó cũng được xem là mục đích mà Trung tâm SocialLife đã và đang nỗ lực định hình một hướng đi học thuật cho việc nghiên cứu các vấn đề đời sống xã hội Việt Nam đương đại.

HEIDEGGER VÀ CON HÀ MÃ BƯỚC QUA CỔNG THIÊN ĐƯỜNG

HEIDEGGER VÀ CON HÀ MÃ BƯỚC QUA CỔNG THIÊN ĐƯỜNG

“Để thấy Thế Giới trong một hạt cát
Thiên Đường trong một bông hoa dại
Hãy giữ Vô Hạn trong lòng bàn tay
Và Vĩnh Hằng trong một giờ.”
William Blake, nhà thơ thần bí Anh
Sau Plato và con thú mỏ vịt bước vào quán bar… lại đến bestseller Heidegger và con hà mã bước qua cổng Thiên đường, Thomas Cathcart và Daniel Klein lần nữa kích thích trí tò mò của độc giả.
Heiddegger thông thái cưỡi trên lưng Hà mã ư! Chuyện gì kỳ cục vậy? Thì ra họ lại làm cuộc chu du mới, dùng ống kính vạn hoa soi rọi những đề tài huyền hoặc về sống, chết và nỗi sợ chết khiến đời người bị hủy hoại, về Thiên đường, Địa ngục, bật mí những trò lừa thô sơ hoặc tinh quái dồn ép Thần Chết vào đường cùng thất nghiệp, và nhiều thứ thú vị không ngờ khác … trong lịch sử tinh thần và khoa học của nhân loại.
Với Heidegger và con hà mã bước qua cổng Thiên đường, nếu Freud, Jung, Groucho Marx, Socrates, Woody Allen, Kierkegaard, Lily Tomlin, Đức Phật, Heidegger… gây xoắn não, đã có ngay những họa sĩ truyện tranh New York, xác sống, tất nhiên là cả hà mã và các truyện tiếu lâm độc đáo làm bạn phá lên cười, sáng cả óc. Hàn lâm và vui vẻ, cuốn sách này đúng là triết tếu để lĩnh hội triết – thật là hay, thật là nhộn, thật đấy!
Thiêng Và Phàm

Thiêng Và Phàm

Có thể nói rằng lịch sử các tôn giáo, từ những tôn giáo sơ khởi nhất đến những tôn giáo hoàn chỉnh nhất, được tạo nên nhờ tích lũy những sự linh hiển, bằng các biểu hiện của những hiện thực thiêng liêng. Từ sự linh hiển sơ đẳng nhất, chẳng hạn, tính thiêng biểu hiện ở một vật nào đó, một hòn đá hay một cái cây; cho đến tính thiêng biểu hiện ở mức cao siêu nhất, chẳng hạn, đối với một người Kitô giáo, sự hóa thân của Thượng đế vào Jesus Kitô, không tồn tại giải pháp nối tiếp liên tục giữa cái thiêng và cái phàm.

Ta phải hình dung toàn bộ kinh nghiệm sống của con người tôn giáo trong mối quan hệ với kinh nghiệm riêng của người không có ý thức tôn giáo, của người đang sống hay mong muốn được sống trong một thế giới phi thiêng hóa như thế nào đây? Đó là chủ đề chi phối xuyên suốt tác phẩm, dẫn dụ người đọc lần theo những nét đặc thù của trải nghiệm tôn giáo, thông qua các ví dụ hết sức tản mạn được lồng ghép khéo léo, và lôi cuốn lạ thường.

Những lời bộc bạch

Những lời bộc bạch

1. Đôi dòng về tác giả:

Jean-Jacques Rousseau (1712-1778), nhà triết học, nhà văn, nhà sân khấu xuất thân từ một gia đình gốc Pháp, được nuôi dạy theo truyền thống Tin lành. Với tư cách là một triết gia theo thuyết tự nhiên thần và nhị nguyên luận, ông đề cao tình yêu đối với thiên nhiên và có một quan niệm bi đát về xã hội, cho rằng xã hội văn minh làm hư hỏng con người. Với tư cách là một nhà văn, ông nổi tiếng trên văn đàn với những tác phẩm như Julie hay nàng Héloise mới (1761), Thú nhận (1782) Những mơ mộng của một người dạo chơi cô độc (1772-1778). Những tác phẩm này thể hiện nhân cách phức tạp của Rousseau mà “những niềm say đắm dữ dội, trào dâng” luôn vấp phải thực tế và ràng buộc xã hội, bộc lộ rõ tư tưởng của Rousseau về quan hệ con người trong xã hội, tạo cơ sở cho sự hình thành tính tâm lí trong văn học châu Âu. Rousseau là đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa linh cảm trong lí luận văn học và sân khấu, là người có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ nền văn học Châu Âu không chỉ trong thời đại Khai sáng.

2. Về tác phẩm:

Những lời bộc bạch là cuốn tự truyện của Rousseau, được chia thành hai phần khác biệt nhau rõ rệt. Như tác giả nói rõ, phần Một dành cho ba mươi năm của tuổi thanh xuân với những hồi ức tươi mát và êm đềm, với “muôn ngàn ấn tượng thú vị”, phần Hai thuật lại quãng thời gian tương tự, đầy những biến động trong cuộc chiến đấu với bản thân, với xã hội: vinh quang, danh tiếng, khổ đau, tai họa… Kết cấu phần Một cân đối, các quyển có số trang tương đương, tuy bao trùm những khoảng thời gian không đều nhau, có khi mười mấy năm có khi chỉ mấy tháng. Mỗi hồi tưởng là một lạc thú mới mẻ, được tác giả trở đi trở lại “và có thể sửa sang không ngại ngùng sự diễn tả cho đến khi hài lòng”. Phần hai, viết nhanh trong trạng thái “lo sợ và đãng trí, bị những kẻ rình mò và canh gác đầy cảnh giác đầy ác ý vây bọc”, có kết cấu lỏng lẻo hơn. Cuộc đối đầu liên miên với những trở ngại, những sự ngược đãi, các tài liệu, thư từ được viện dẫn, khiến số trang của mỗi quyển tăng lên.