sach-nen-tang-van-minh-phuong-tay

Nền Tảng Văn Minh Phương Tây

Nền Tảng Văn Minh Phương Tây

Khi đề cập đến nền văn minh phương Tây ta không thể bỏ qua tính chất lịch sử của nó, hay nói cách khác, nó chính là kết quả của lịch sử… Sự phân biệt giữa nền văn hóa phương Tây với các nền văn hóa khác thường là độc đoán, có khi cường điệu, dễ dẫn đến những khẳng định không dễ chấp nhận như: nền văn minh phương Tây là tất cả.

Trong cuốn sách Nền Tảng Văn Minh Phương Tây này, các tác giả đã tìm hiểu và trình bày một cách khách quan các nền văn minh xa xưa nhất. Các học giả phân tích rõ ràng và sâu sắc những biến đổi lịch sử: cấu trúc xã hội, định chế chính trị, những thay đổi trong việc tổ chức sản xuất, tác động của kỹ thuật và công nghệ, sự tiến hóa của gia đình và sự thay đổi của giới tính, sự tồn tại của chiến tranh, tín ngưỡng, truyền thống tôn giáo và triết học, các loại hình văn hóa…

Qua cuốn sách này, các độc giả có thể tìm thấy toàn thể diện mạo châu Âu từ cổ đại cho đến ngày nay qua những bước phát triển của con người và xã hội phương Tây, từ nền tảng vật chất đến hệ thống cấu trúc thượng tầng như giá trị tinh thần và đạo đức.v.v.

Truyen-Cuoi-dan-gian-Viet-Nam

Truyện cười dân gian Việt Nam

Dân gian ta xưa đã có câu “Một nụ cười bằng mười
thang thuốc bổ”. Nụ cười giúp chúng ta xua tan mệt mỏi, căng thẳng sau một ngày
làm việc vất vả. Với mong muốn mang đến cho độc giả những phút giây thư giãn thoải
mái và tiếng cười sảng khoái, cuốn sách “Truyện
cười dân gian Việt Nam”
do nhà sách Huy Hoàng phát hành tuyển chọn hàng
trăm truyện cười đặc sắc trong kho tàng truyện cười dân gian Việt Nam sẽ là món
quà thú vị đáp ứng nhu cầu về “cái cười mua vui” rất đa dạng của bạn đọc. Đằng
sau mỗi tiếng cười độc giả sẽ tự chiêm nghiệm những bài học, sự phê phán những
thói hư tật xấu trong xã hội và các triết lý sâu xa về cuộc sống.

xay-dung-ke-hoach-marketing-hoan-hao-tap-2-lap-ke-hoach-marketing

Xây dựng kế hoạch marketing hoàn hảo tập 2

Giới thiệu sách:

Ngày nay, một trong những nhân tố tiên quyết tạo nên hiệu quả marketing cho doanh nghiệp chính là khâu lập kế hoạch marketing. Bộ sách “Xây dựng kế hoạch Marketing hoàn hảo -dành riêng cho doanh nghiệp Việt Nam”của tác giả Hoàng Phương (Chuyên gia & Giảng viên cao cấp, Phó tổng giám đốc Tổ Chức Giáo Dục PTI, Giám đốc đào tạo – Trường Đào tạo Doanh nhân PTI), sẽ giúp chúng ta tiếp cận với từng chỉ dẫn cụ thể và chính xác nhất để có thể xây dựng được kế hoạch marketinghoàn hảo dưới

ánh sáng của những luận cứ khoa học và hiện đại.Về bản chất, cách thức lập kế hoạch Marketing là một quá trình toàn diện, liên tục, có tính lồng ghép và từng bước đưa ra quyết định và hành động, bao gồm 10 bước cho phép doanh nghiệp xác định các vấn đề, câu trả lời, câu hỏi một cách chính xác và ra quyết định.

Đây là sách Xây dựng kế hoạch marketing hoàn hảo tập 2 viết về lĩnh vực marketing hữu ích nối tiếp thành công của Marketing Case Studies và Phân tích SWOT bàn về quy trình đồng bộ của việc lập kế hoạch marketing cho doanh nghiệp, bắt đầu từ chuẩn bị thiết lập kế hoạch, triển khai thực hiện đến khâu cuối cùng là đánh giá tổng quan. Với sự tìm hiểu có chiều sâu, tác giả Nguyễn Hoàng Phương đã cập nhật thông tin sâu hơn về phần marketing cơ bản, đồng thời nâng cấp và kiểm nghiệm bằng phương pháp lồng ghép để bạn đọc có thể hiểu sâu hơn và thiết kế được một kế hoạch phù hợp, bắt kịp với môi trường marketing cạnh tranh, thay đổi nhanh chóng như hiện nay.

Binh pháp Tôn Tử và nghệ thuật kiếm tiền

Binh Pháp Tôn Tử Và Nghệ Thuật Kiếm Tiền

Thương trường và chiến trường đều là những lĩnh vực gay go và phức tạp mà chỉ những nhà cầm quân tài giỏi và sáng suốt mới có khả năng dẫn đến thành công.

Sách Binh pháp tôn tử & nghệ thuật kiếm tiền vận dụng các ý tưởng trong binh pháp Tôn Tử để hướng dẫn giải quyết các vấn đề của lĩnh vực tài chính kinh doanh một cách thích đáng và hiệu quả. Michael M.K.Cheung có những so sánh xác đáng giữa nguyên tắc dụng binh và nghệ thuật kiếm tiền,

và việc áp dụng thành công các chiến lược của Tôn Tử vào trong cuộc sống kinh doanh đã được chứng minh rõ rệt qua nhiều ví dụ thực tế. Những ý tưởng quân sự tưởng chừng như xa lạ với thương trường nhưng đã qua giải thích và suy diễn của tác giả đã trở thành những lời khuyên quý giá cho những người làm kinh doanh. Sách hay va tuyển chọn.
Tạng thư sinh tử ( Tái bản lần 2 )

Tạng thư sinh tử ( Tái bản lần 2 )

Sinh ra ở tỉnh Kham thuộc miền Đông Tây Tạng, Sogyal Rinpoche được xem là hiện thân của Terton Sogyal, vị thầy của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13; và là học trò của Jamyang Khuyentse Chokyi Ledro, một trong những bậc thầy tâm linh nổi tiếng của thế kỷ 20.

Sogyal Rinpoche bắt đầu học với rất nhiều vị thầy khác nhau, đặc biệt là Kyabje Dudjom Rinpoche và Kyabje Dilg Kyentse Rinpoche. Ông đi đến nhiều nơi trên toàn thế giới, quan sát đời sống thực tế của người dân và dịch những giáo lý có thể giúp

họ nhận thức tốt hơn về thế giới hiện đại. Mục đích của ông là truyền bá những thông điệp toàn diện của giáo lý mà không đánh mất tinh xác thực, thuần khiết và quyền năng của chúng. Điều này đã được minh chứng rất sinh động trong cuốn “Tạng thư sinh tử”-một cuốn sách nền tảng và nổi tiếng nhất của ông. Hơn 1.500.000 ấn bản của cuốn sách này đã được in ra trên 26 ngôn ngữ và xuất bản ở 54 quốc gia. Các trường Đại học, Học viện tôn giáo, Y khoa; các y tá, bác sỹ, và chuyên gia chăm sóc sức khỏe đều sử dụng và xem nó như một cẩm nang tinh thần vô giá.
“Tạng thư sinh tử” – một chỉ dẫn hướng đến sự giải thoát, có thể giúp chúng ta dấn thân vào cuộc hành trình tìm về cội nguồn của sinh tử và ý nghĩa cuộc đời.
Hạnh phúc khắp quanh ta

Hạnh phúc Khắp Quanh Ta

Có rất nhiều yếu tố khác nhau liên quan đến một cuộc sống hạnh phúc thật sự. Trong đó, có thể tạm chia thành hai nhóm: nhóm yếu tố thuộc về ngoại cảnh, bao gồm các điều kiện vật chất và các tác động đến từ bên ngoài nói chung, và nhóm yếu tố thuộc về nội tâm, bao gồm những phẩm chất tâm hồn, những tình cảm, cảm xúc hay tư tưởng, nhận thức nói chung…

Khi những yếu tố thuộc về ngoại cảnh hoàn toàn thuận lợi, chúng có thể mang lại cho ta một cuộc sống êm ả, thỏa mãn. Ta có thể có được tâm trạng hài lòng và vui vẻ, lạc quan yêu đời. Tuy nhiên, khả năng này hầu như rất hiếm khi xảy ra, vì sự thật là chúng ta thường có quá nhiều mong cầu đến nỗi rất khó mà có thể cùng lúc đạt được tất cả. Và ngay cả khi điều này xảy ra, chúng ta vẫn có thể biết chắc một điều là nó sẽ không thể tồn tại lâu dài. Bởi vì tất cả những điều kiện vật chất luôn bấp bênh thay đổi, và sự thay đổi của chúng lại tất yếu dẫn đến thay đổi tâm trạng của ta. Hơn thế nữa, chúng còn có tác động nuôi lớn lòng ham muốn, làm cho chúng ta càng phụ thuộc nhiều hơn vào các điều kiện vật chất. Vì thế, cảm giác thỏa mãn do các điều kiện ngoại cảnh mang lại không phải là hạnh phúc chân thật, và nó rất mong manh, không thường tồn. Mặc dù vậy, nhóm yếu tố thuộc về ngoại cảnh vẫn là cần thiết trong việc đáp ứng những nhu cầu vật chất tối thiểu để góp phần tạo nên một đời sống hạnh phúc.

Điều kiện quan trọng hơn để đạt đến cuộc sống hạnh phúc chân thật chính là nhóm yếu tố thuộc về nội tâm. Đó là những phẩm chất tốt đẹp, những nhận thức đúng đắn, những quan điểm ứng xử thích hợp, có thể giúp chúng ta đạt đến một tâm trạng thanh thản vui sống, là cơ sở để đạt đến một đời sống yên vui hạnh phúc. Hạnh phúc chân thật đạt được bằng vào những yếu tố này sẽ có thể tồn tại bất chấp nghịch cảnh, bất chấp sự thay đổi thường xuyên của các điều kiện bên ngoài.

Tập sách mỏng này sẽ mang đến cho bạn những nhận thức cần thiết và sự thực hành trong cuộc sống hằng ngày để luôn có thể cảm nhận được mọi nguồn hạnh phúc khắp quanh ta.

Gọi nắng xuân về

Gọi Nắng Xuân Về

Tác phẩm mới nhất trong tủ sách Rộng mở tâm hồn, được phát hành nhân dịp đầu xuân Tân Mão. Đây là món quà tinh thần không thể thiếu cho các bạn đọc đã từng yêu mến các tác phẩm của tác giả Nguyên Minh.

Vẫn với giọng văn trong sáng và nhẹ nhàng quen thuộc, tác giả đã mang đến cho tâm hồn người đọc những tia nắng ấm trong dịp đầu xuân. Không chỉ là những tia nắng sưởi ấm vạn vật lúc xuân về, mà là những tia nắng sưởi ấm tận trong lòng người, xua tan đi những nhận thức sai lầm đã tạo ra khổ đau và mê muội.

Thế giới 5000 năm những điều bí ẩn

Thế Giới 5000 Năm Những Điều Bí Ẩn

Lịch sử phát triển của xã hội loài người trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm với vô vàn biến cố và những huyền thoại bí ẩn trôi theo dòng chảy của thời gian. Từ vương quốc cổ đại bên bờ sông Nile đến nay, lịch sử thế giới đã có 5000 năm tồn tại, phát triển và chứa đựng biết bao điều bí ẩn thuộc mọi lĩnh vực như văn hóa, nghệ thuật kiến trúc, chính trị, xã hội, tôn giáo, chiến tranh, quyền lực, dân tộc, danh nhân, v.v…

Pharaon Tutankhamun vì

sao lại chết sớm? Vì sao một số vùng thổ dân ở Nam Á tế thần bằng người sống? Có quái vật ở hồ Nét hay không? Quan thế âm bồ tát từ nam biến thành nữ như thế nào? Tháp nghiêng Pisa vì sao nghiêng mà không đổ? Bí ẩn trong chữ ký của Colombo? Có phải Betthoven là người sáng tác “bản giao hưởng số 10”?… Con người ở mọi thời đại luôn quan tâm tìm hiểu, lý giải những bí ẩn của tự nhiên, xã hội và đời sống của con người trong quá khứ để hướng tới tương lai tốt đẹp hơn.Đáp ứng nhu cầu đó, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin giới thiệu cùng bạn đọc cuốn “Thế giới 5000 năm những điều bí ẩn”. Cuốn sách được soạn thảo công phu, trình bày hệ thống, giàu tính thông tin, khoa học, mang giá trị thực tiễn, hấp dẫn và lý thú.

Hy vọng tập sáchThế giới 5000 năm những điều bí ẩn” là tài liệu hữu ích giúp bạn đọc tìm hiểu về thế giới

Lãng du trong các nền văn hóa

Lãng du trong các nền văn hóa

Sách Tín Ngưỡng Dân Gian Phú Quốc:

Cuốn sách đề cập đến nhiều dạng thức tín ngưỡng cộng đồng của cư dân ở hòn “đảo ngọc”, nơi vùng biển Tây Nam của Tổ quốc. Phú Quốc mang đậm nét văn hoá biển, nơi đây còn bảo lưu những nét tín ngưỡng đặc thù gắn liền với các truyền thuyết dân gian, thể hiện qua một hệ thống các cơ sở thờ tự, lễ hội rất phong phú.

Ðó là tín ngưỡng thờ cá Ông phổ biến khắp nơi trên huyện đảo với nhiều lăng thờ

ở xóm Cồn, Ðường Bào, Bần Quỳ, Thổ Châu, Cửa Cạn, Dương Tơ, Hàm Ninh… Người Phú Quốc xem Ông Nam Hải (cá voi) – một vị thần chủ của biển khơi, giúp họ vượt qua những khắc nghiệt của biển cả để hướng tới những vụ mùa bội thu
Ngộ thiền

Ngộ thiền

Bầu trời chứa đựng tất cả những áng mây, bất luận là đẹp hay xấu, nên mới bao la vô tận; núi cao chứa đựng tất thảy những hòn đá, bất luận lớn hay nhỏ, nên mới cao lớn hùng vĩ; biển cả chứa đựng những con sóng, bất luận đục hay trong, hiền lành hay hung dữ, nên mới rộng lớn mênh mông.
Thiền chính là cơ duyên, chỉ cần bạn chú ý quan sát, không bỏ gần tìm xa, thì chắc chắn sẽ hạnh ngộ. Khi ấy bạn sẽ ngộ ra rằng không lúc nào

không thiền, không nơi nào không thiền, không ai không thiền, không chuyện gì không thiền.
Đến với “Ngộ Thiền”, bạn sẽ cảm nhận được huyền ý qua những câu chuyện Thiền mang đậm triết lý nhân sinh, cảm nhận được ý nghĩa của cuộc sống từ những điều đơn giản quanh ta!
QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN TƯ TƯỞNG PHƯƠNG TÂY

QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN TƯ TƯỞNG PHƯƠNG TÂY

Một công trình biên soạn công phu với nhiều tra cứu và tham khảo nghiêm túc theo suốt chiều dài lịch sử hình thành, chuyển hóa và phát triển của tư tưởng phương Tây. Tác giả đã trình thuật cuộc hành trình tri thức luận vĩ đại của tư tưởng phương Tây từ khi triết học sinh ra từ ý thức huyền hoặc Hy Lạp cổ đại qua thời cổ điển, trung cổ và những kỷ nguyên cận đại, tới thời hậu cận đại của chúng ta:
Sự tiếp nối nhau tuyệt vời của những thế giới

NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ NHÂN LOẠI

NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ NHÂN LOẠI

Cuốn Nghiên cứu lịch sử nhân loại của ông Toynbee trình bày một luận điểm đơn nhất và liền lạc về bản chất và mô hình lí tưởng của lịch sử nhân loại, kể từ khi hình thức xã hội gọi là nền văn minh lần đầu tiên xuất hiện. Luận điểm đó được minh họa, và trong giới hạn cho phép, được “chứng minh” tại mọi giai đoạn bằng những ví dụ sinh động rút ra từ toàn bộ chiều dài lịch sử nhân loại vốn đã được các nhà sử học thời nay ghi nhận.

TRIẾT HỌC TÂY PHƯƠNG TỪ KHỞI THỦY ĐẾN ĐƯƠNG ĐẠI

TRIẾT HỌC TÂY PHƯƠNG TỪ KHỞI THỦY ĐẾN ĐƯƠNG ĐẠI

Mục  đích của tác phẩm này  – không  muốn  chỉ đơn thuần là một tập hợp những  bản văn – mà còn giới thiệu  tính đa dạng của tư tưởng triết  lý một  cách  rộng  rãi nhất,  từ khởi  thủy đến đương đại, trong sự  tôn trọng tính đa nguyên  của các học thuyết  và các trào  lưu đã tạo nên dòng tư tưởng nhân loại. Triết học là một  mà cũng  là nhiều   và chính sự đa dạng trong nhất tính này (cette  diversité dans l’ unité)  đã mang lại vẻ toàn  mãn  phong phú cho triết học.

Nhằm mục đích đó, chúng  tôi muốn,  trong khi vẫn trang trọng  dành cho các  tác giả – minh chủ (auteurs-phares) và các bản văn kinh điển (textes canoniques) của lịch  sử triết  học, vị trí xứng đáng mà truyền  thống  vẫn dành riêng cho họ, mở rộng  khuôn   khổ các bản văn  đến  những  tác giả và những  trào lưu tư tưởng,  và những  thời đại mà các giáo  trình thông thường ít dành  chỗ và nhiều  khi, chẳng dành cho một chỗ đứng  nào.

Chính theo cách  ấy mà tất cả một  thời kỳ trải  dài  từ đầu  thời  Trung cổ (Boèce)   cho đến cuối thời Phục  hưng (Galilée), nghĩa là khoảng   mười thế kỷ triết học  thường  bị lặng lẽ bỏ rơi cho một  số ít chuyên gia, đã tìm lại vị  trí triết  học cho dòng  chảy  liên  tục từ Thượng cổ. Cũng  thế,  chúng  tôi muốn  rằng những trào lưu tư tưởng thường chỉ được  khảo sát sơ lược hay bất toàn, chẳng hạn  như các chủ thuyết  duy vật hiện  đại, hay là,   ở cực kia, triết học Pháp  của thế  kỷ mười  chín, thoát thai từ Kant hay từ Maine de Biran, sẽ được giới thiệu kỹ lưỡng  hơn trong hợp tuyển này. Chúng  tôi cũng quyết  tâm sao cho nền triết học phân tích của Anh, ít được biết đến tại Pháp, được  quyền  hiện diện chính đáng, trong tư tưởng  thế kỷ hai mươi. Còn đối với một  số tác giả,  như Grotius, mà ngày  nay những  người không  chuyên  môn hầu như chẳng hề biết đến, thế nhưng tầm quan trọng đối với triết học chính trị của các thế kỷ mười bảy  và mười  tám,  là rất đáng kể.  Hay như Jacobi, mà Kant không  nề hà chọn  làm đối thủ của  mình, là những   thí dụ về những  ý hướng  của chúng  tôi muốn  phục hồi phẩm giá cho vài tên tuổi  lớn mà chỉ những   sử gia triết  học  còn lưu giữ hoài  niệm.

Rất nhiều  trong số những  bản văn  này – hầu như tất cả những  bản văn  liên  quan đến thời Trung cổ và thời Phục   hưng, cũng như nhiều bản văn thời Thượng  cổ được  cập nhật hóa một cách khoa học,  đã được  dịch  hay dịch lại bởi các chuyên  gia đặc trách  về từng thời kỳ  – Đối với những  bản văn triết  học  Đức, chúng  tôi cũng dụng  công như thế.

Có  hai nguyên lý hướng   dẫn  công  trình của nhóm  chúng  tôi, mà cả hai đều không phải  là không   có những ngoại lệ.

Nguyên lý thứ nhất  hệ  tại ở  chỗ tự giới hạn  vào những  tác gia triết học, loại trừ lĩnh vực khoa học nhân văn. Vậy nên xin bạn đọc đừng ngạc  nhiên khi thấy vắng bóng một vài tên tuổi  lớn, rất quen thuộc  với công  chúng. Tuy nhiên, chúng  tôi vẫn bảo lưu một  số văn bản – chẳng hạn  của Freud, một  tác gia vẫn được coi là triết  gia – nơi một cách đặt vấn đề thực  sự triết  lý hiện  diện  rõ ràng,  bởi sự thực là   biên giới  giữa   cái  gì  là   triết lý   (le philosophique) với cái gì là phi-triết lý (le non- philosophique)  đôi khi cũng khó phân  biệt cho rạch ròi.

Nguyên lý thứ nhì hệ tại ở chỗ nhận  cái trật tự biên  niên  sử trong việc trình bày các tác gia. Trật  tự này có ưu thế là cho phép  độc giả định vị dễ dàng  các tác gia trong dòng thời gian. Nó cũng chỉ giúp cho tác phẩm  độc lập với những khái niệm  được  hàm chứa trong các chương trình học  tập và những  biến  cải có thể tác động đến  chúng.  Cuối  cùng trật tự này tạo thành một thứ lịch  sử triết học qua triết văn. Tuy nhiên trật tự này không   phải là không   đem lại điều bất tiện. Kiểu trình bày biên niên tạo ra tính bất liên  tục  nó che giấu tính liên tục nằm ở chỗ tầng sâu hơn của những  trào lưu tư tưởng, đôi khi khiến cho các triết  gia cách xa nhau trong thời gian lại  rất gần  gũi nhau trong tư tưởng. Để tránh điều bất tiện chính yếu này, đôi khi chúng  tôi cũng  tự cho phép  tùy tiện một chút đối với kiểu  biên  niên  thuần  túy. Chẳng hạn,việc tôn trọng nghiêm  ngặt tính biên niên sẽ buộc  phải để Maine de Biran giữa Fichte và Hegel. Nhưng kiểu  trật tự này sẽ phá vỡ không chỉ tính thống  nhất của trào lưu sau Kant mà còn  phá  vỡ tính liên  tục  đã dẫn dắt tư tưởng duy linh của  Pháp   từ Maine de Biran đến Bergson. Vậy nên trật tự được  chọn  nhận là một kiểu thoả hiệp giữa tính biên  niên  và sự tôn trọng  – có tính thiết yếu trong mắt chúng tôi – đối với một thứ lô-gích   riêng  của lịch  sử triết học.  Cuối cùng, để soi sáng cho độc giả về những  trường   phái  và những  thời kỳ triết học,  chúng  tôi đã đặt ra một số những  cột mốc (Thượng cổ, Trung cổ, Phục hưng, Hiện đại…) đánh dấu những  tuyến  lớn trong triết học.

Người ta cũng  sẽ tìm thấy trong tác phẩm này, những  tập hồ sơ liên quan đến  lịch  sử tư tưởng (Việc  Kiểm  soát trí thức   ở thời   Trung cổ  – Khoa học huyền bí vào  thế  kỷ 16) và lịch sử  khoa học. (Những lý  thuyết  về bản chất của ánh sáng trong thế  kỷ 17, 18). Thực vậy, nếu các triết gia đọc  của nhau – có khi hiểu   rõ, có khi không  hiểu  rõ lắm  – thì họ cũng đọc những  thứ khác  hơn là triết   học. Những  bản văn triết quy chiếu  về triết  học và kể cả những  cái không   phải  là triết  học, được phác  thảo  một cách  triết  lý, nghĩa là thuần khái niệm (conceptuellement). Những tập  hồ sơ về lịch  sử tư tưởng  và lịch  sử khoa học tìm cách soi sáng  cái bên  ngoài  đó của triết học  mà dầu muốn  hay không triết gia vẫn  luôn luôn  giữ một mối quan hệ  khá  là lập lờ.

Đối với mỗi tác giả, người  đọc  sẽ gặp một tiểu  sử ngắn,  và một  thư mục  gói gọn những tác phẩm  chính của  vị ấy và vài công  trình nghiên  cứu phê bình.

Các tác phẩm  quan trọng trở thành  đối tượng của những  chú thích giới thiệu  ngắn gọn.  Các bản văn trích tuyển được  mở đường bằng một đoạn  dẫn nhập ngắn nhằm khai mở đối tượng   và cách  đặt vấn đề của đoạn văn đó. Một  vài biên  chú hoặc  cước  chú đã được dự  trù nhằm  giúp cho việc đọc hiểu được thuận lợi hơn. Ở  cuối  mỗi bản văn và đôi khi đề xuất  một hay nhiều tham chiếu  đến các thời gian khác  và các bản văn  khác.

Những tham chiếu  này không  hề có nghĩa là một  đồng  nhất  tính giữa khái niệm của bản văn đang bàn và những khái  niệm  của bản văn mà những  tham chiếu  này nêu lên cho độc giả lưu ý.  Như Eric Weil đã viết,  lịch  sử triết  học  là lịch  sử việc chuyển  di những khái niệm. Như vậy người  ta sẽ không   tìm thấy được  một khái niệm chung cho hai triết gia, nhưng luôn luôn vẫn hữu ích cho việc suy tư khi nêu  lên mối quan hệ giữa  các ý  niệm, gần  gũi nhau hay đối lập nhau, và nắm  bắt được  sự khác biệt để khoanh vùng chính xác hơn ý  nghĩa  của những gì ta đọc. Chính trong tinh thần  đó người ta phải  sử dụng những tham chiếu  tác phẩm  mà chúng  tôi đã nêu  ra.

Đưa cả hai mươi lăm  thế  kỷ triết  lý vào  chỉ trong khoảng 1200 trang quả  là một  sự  đánh cược  táo bạo. Chúng tôi lấy làm tiếc phải từ chối không  cho phép hiện diện trong quyển sách  này một  số bản văn  có thể giúp  chúng ta thấy  rõ hơn bước tiến hóa tư tưởng của một triết gia. Muốn  mở rộng  tối đa tác phẩm  đến tính hiện đại nên thường  khi chúng  tôi đành phải giới hạn  ở mức   mỗi   tác  giả  một   vài  bản văn mà thôi (ngoại trừ đối với một  số tác giả- minh chủ như Platon, Aristote, Descartes, Kant, Hegel,  Husserl, Heidegger  v.v…) Thêm  một lần nữa, người  ta lại thấy ở  đây sự thoả hiệp giữa những   yêu  cầu  triết  lý và những  ràng buộc của thực  tế.

Cuối cùng chúng  tôi muốn  nhắc  nhở món nợ tinh thần mà mọi người đọc – tất nhiên  là kể cả chúng   tôi – đều mang ơn đối  với việc làm vô cùng  hữu ích và đáng  giá của các sử gia lớn của triết học,  những  người  bảo lưu di sản triết văn,  theo kiểu  diễn  tả của Henri Gouhier, một trong những  triết  sử gia lỗi lạc nhất.  Là những  luận sư (commentatcurs) của các bản văn lớn, trước  tiên  họ cũng phải là những triết gia. Họ thường suy tư một cách riết  lý về lịch  sử triết  học. Dầu  không   hiện diện trong hợp tuyển  này, điều  này cũng không  nên khiến  cho chúng  tôi quên  công việc tuy âm  thầm  lặng  lẽ mà có giá trị  rất đáng  kể của họ.

“Tất  cả những  gì quí thì cũng  khó và hiếm”, Spinoza  đã viết  như thế    ở  cuối quyển Đạo đức  học. Chẳng   có một  bản triết  văn nào lại dễ đọc  cả. Chẳng   có một bản triết văn nào để cho ta dễ dàng  đi vào, không  cần phải cố gắng động  não. Nhưng người  đọc nào  chấp  nhận   cố gắng   đó sẽ cảm thấy  được  tưởng  lệ bởi niềm  vui chưa bao giờ  lỡ hẹn trong cuộc  hành  trình tìm đạt tri kiến. Niềm vui đó, khi dấn thân vào cuộc nghiên  cứu riêng  tư sẽ còn  được tài bồi  bởi bao niềm mãn nguyện  khác. Niềm vui đó cũng  còn  được chia sẻ  trong những cuộc tranh luận  tự do. Thay vì, giam mình trong cuộc  độc thoại, những  bản triết  văn mở ra cho một hội sống tinh thần  và chỉ trở nên sinh động qua cuộc sống  đó.

TUYỂN TẬP DANH TÁC TRIẾT HỌC TỪ PLATO ĐẾN DERRIDA

TUYỂN TẬP DANH TÁC TRIẾT HỌC TỪ PLATO ĐẾN DERRIDA

Chẳng có dẫn nhập triết học nào đầy đủ, chính xác và hay hơn là đọc trực tiếp chính những tác phẩm của một số đại triết gia. Sách được trình bày theo một bố cục đặc biệt:
• Tái hiện rõ nét những dấu mốc quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển tư tưởng phương Tây.
• Dẫn nhập được chia thành 3 phần: tính tiểu sử (vài nét về cuộc đời), tính triết học (tóm tắt tư tưởng của từng triết gia) và tính thư mục (sách tham khảo thêm)
không khoa trương, lược bỏ

những đoạn hoàn toàn không cần thiết, chuyển tự tất cả những từ Hy Lạp với mục đích giúp người đọc như lắng nghe-và có thể là tham dự-cuộc đàm thoại như đang diễn ra trên diễn đàn tư tưởng, triết học phương Tây
TRIẾT HỌC THỜI PHỤC HƯNG

TRIẾT HỌC THỜI PHỤC HƯNG

Quyển này gồm những tuyển tập trích ra từ những tác phẩm của các nhà tư tưởng Ý thời Phục Hưng. Trừ công trình khai phá đầu tiên của một số ít chuyên gia truyền lại nhưng vẫn chưa gom góp đủ cho các bài giảng trình độ Đại học của chúng ta về lịch sử triết học, tư tưởng Phục Hưng hầu như hoàn toàn bị bỏ quên. Lý do chính của sự việc này thật dễ hiểu nhưng khó tha thứ. trong tài liệu triết học thời đó, chúng ta thường không tìm thấy những nhà tư tưởng có tầm vóc của một Plato hay một Aristotle, một Scotus hay một Ockham, một Descartes hay một Hume. Đó là vì không một nhân vật nào hay một nhóm nhân vật nào đủ xuất chúng để phát huy hết mọi sức mạnh có được trong trong việc điều tra mang tính khoa học. Tuy nhiên, các sử gia triết học, bỏ sót một chương về lịch sử tri thức, đó là điều không thể bào chữa được.
Ngày nay ai đọc Christian Wolff? Nhưng Kant đã đọc và nếu chúng ta muốn tìm hiểu Kant, chúng ta cũng nên đọc. Tương tự như vậy, tư tưởng triết học Phục Hưng cung cấp nhiều manh mối  quan trọng cho việc nghiên cứu các nhà tư tưởng cận đại. Vì vậy, nếu ta thực sự mong muốn tìm hiểu sự khác biệt rông lớn trong quan điểm giữa Ockham và bacon (ví dụ) thì việc nắm vững thấu đáo về trào lưu tri thức thời Phục Hưng là không thể thiếu được.
Đại khái trong dòng tư tưởng thời Phục Hưng có bốn trào lưu cơ bản: Hy – La, Plato, Aristotle và các triết gia tự nhiên độc lập. Vì vậy, quyển sách này được chia làm bốn phần, mỗi phần gồm các tác phẩm tiêu biểu cho một trong bốn truyền thống chính. Mỗi tuyển tập được chọn lựa để trình bày xu hướng triết học quan trọng hoặc lập trường đặc trưng của trường phái với tên tác giả được xác định.
Nhân bản luận, xuất phát từ Ý và dần lan toả khắp Châu Âu, là phong trào trí thức thời đại rộng lớn nhất và lan tràn nhất trong các phong trào trí tuệ của thời kỳ này. Những người thời Phục Hưng là những người đầu tiên đặt ra và sữ dụng thuật ngữ này…
Nhân bản luận trở nên được công nhận vì chiếm một vị trí quan trọng trong lịch sử triết học phương Tây. Trước hết, họ nghiên cứu văn học cổ đại đã giúp cho những tác phẩm của các triết gia cổ xưa nhìn chung là dễ tiếp cận để nghiên cứu trực tiếp và trình bày lại. Ngoài ra nhân bản luận sử dụng thể loại văn học cổ điển như một phương tiện truyền bá triết học, hứa hẹn cuộc nổi dậy có ý thức chống lại sự phê phán nghiêm khắccủa thuật ngữ học và phương pháp triết học kinh viện, dẫn đến một sự biến hoá toàn vẹn trong văn phong của văn chương triết học, đây là một sự đóng góp đáng kể. Hơn nữa, chính trường phái nhân văn đã lập thành công thức về mô hình cổ điển của nền giáo dục chuẩn mực cho nhiều thế kỷ sau.
Nhân bản luận nhấn mạnh đến vai trò trung tâm và giá trị của con người, chuyên về những chủ đề và luận đề có bản chất luân lý, Như thiên mệnh và vận mệnh, có giá trị tương đối của đời sống thực sự và đời sống tu hành, hạnh phúc và ưu phiền của đời người, tự do của con người và tất nhiên, phẩm giá của người đó.
Triết Học Thời Phục Hưng – Những triết gia Ý. Là một mắt xích có thể kết nối, hỗ trợ cho bất cứ nội dung nào viết về lịch sự triết học.
Các nhà tư tưởng thời Phục Hưng đã trao cho thời đại sau – qua các tác phẩm của mình- những chiếc chìa khoá quan trọng để mở ra những chân trời tư duy mới lạ.
Trường phái Hy – La đã truyền lại di sản sở học kinh điển và phương pháp học thuật trong nghiên cứu. Tư tưởng Platon có thể được xem như hướng thẳng về siêu hình học duy tâm của thời kỳ cận đại.
Tư tưởng Aristote có liên hệ đến sự phát triển sau này của chủ nghĩa tự nhiên và tư tưởng tự do. các triết gia Tự nhiên đã dọn đường cho triết học mang tính chất suy đoán.
PLATO CHUYÊN KHẢO

PLATO CHUYÊN KHẢO

Plato (khoảng 428-347 TCN) là triết gia nổi tiếng, nhà biện luận kiệt xuất và được nghiên cứu rộng rãi nhất trong tất cả các triết gia Hy Lạp cổ đại. Ông chịu ảnh hưởng sâu đậm tư tưởng Socrates, người đã hun đúc ông nuôi dưỡng được bầu nhiệt huyết suốt đời dành cho triết học. Ngoài tác phẩm Apology (Lời biện giải), toàn bộ công trình triết học của Plato đều được thể hiện dưới hình thức đối thoại. Plato là triết gia Tây phương đầu tiên mà những tác phẩm viết tay của ông

còn lưu truyền trọn vẹn.
Triết học Plato, một mặt là sự hoàn tất triết học Socrates thành một hệ thống, kết hợp đạo đức học với triết học tự nhiên thời trước và đặt cả hai lĩnh vực này trên nền tảng biện chứng pháp hay khoa học thuần túy về các ý niệm; mặt khác là sự mở rộng vượt qua nó để xây dựng thành một lý thuyết tri thức phát triển.
Theo Plato, triết học không chỉ là một tập hợp các lý thuyết mà còn là sự hoàn thiện toàn thể đời sống tinh thần; và khoa học không chỉ là một hệ thống truyền đạt khép kín, mà còn là một hoạt động nhân văn và là sự phát triển tinh thần. Vì thế, triết học đích thực chỉ có thể được biểu thị nơi nhà triết học hoàn hảo; nơi nhân cách, lời nói và thái độ đáng kính như triết gia Socrates.
Tóm lại, Plato đã nối liền con người và thế giới trừu tượng; và nổi bật hơn cả, các tác phẩm của ông đã đề ra tất cả những việc phải làm mà triết học nói chung, có thể nói gần như đã tuân theo. Cho nên, hình như không có gì thái quá khi Karl Jaspers, một triết gia Đức, đã cho rằng toàn bộ triết học Tây phương chỉ là những dòng cước chú dưới những trang sách của Plato