thi-nhan-viet-nam

Lời bạt Nhỏ to…Thi nhân Việt Nam – Hoài Thanh, Hoài Chân

Trước khi đăng lời bạt Nhỏ to…Thi nhân Việt Nam, chúng tôi xin trân trọng trích giới thiệu những lời nhận xét và tổng kết rất tinh tế và sâu sắc của tác giả Nguyễn Thị Thanh Xuân về lời bạt Nhỏ tovà cả về Thi nhân Việt Nam.

“Nghiên cứu Thi nhân Việt Nam, phải xem xét trong một tổng thể thống nhất, kể cả phần lời bạt Nhỏ to… mà tác giả đã có ý đưa vào.

Hoài Thanh đã trả lời, rất tự tin và đáng yêu, những câu hỏi trong đầu chúng ta rồi đó. Về sự tuyển thơ khá rộng rãi, ông nói :Nhưng tôi là người thời bây giờ. Dầu vui dầu buồn, tôi muốn sống cái đời bây giờ đã. Có những bài thơ tôi say mê mà người sau sẽ không thấy có gì đặc sắc. Thì mặc họ chứ (…). Tôi chỉ sợ thiếu, không sợ thừa. Tôi muốn ghi hết những vui buồn của thời đại.

Về chuyện ông khen nhiều hơn chê :Tôi nghĩ rằng đã dở thì không tiêu biểu gì hết. Đặc sắc mỗi nhà thơ chỉ ở trong những bài hay”. Về mối quan hệ giữa nhà phê bình, nhà thơ và tác phẩm, ông muốn giữ một thái độ vô tư, trung thực :Nhưng ái ngại hay khinh ghét, khi xem thơ, tôi chỉ biết có thơ. Tôi không hề nghĩ đến danh vọng của người hay của tôi. Danh vọng quý thật, nhưng còn có điều quý hơn danh vọng, quý hơn hết thảy : lòng ngay thẳng, mà ít nhất cũng phải giữ trọn trong văn chương”. Ông khẳng định dấu ấn của chủ thể rất rõ, về quan điểm và cảm xúc :Chạy đi đâu cũng không thoát khỏi cái tôi thôi thì tôi cứ là tôi vậy (…) vui buồn những năm vừa qua trong đời tôi hiện lên trang giấy”.

Nhắc về chuyện phân chia khuynh hướng, ông nói một cách thành thật về cái phân vân của mình :Ấy cũng là liều, và ông tâm sự cả nỗi đắc ý của ông khi chọn được lời đề từ cho Thi nhân Việt Nam để tưởng niệm Nguyễn Du…

Sau bài Cung chiêu anh hồn Tản Đà, những dòng văn trang trọng như những nén nhang trầm cầu thỉnh Tản Đà về khai hội Tao Đàn, là bài phê bình Một thời đại trong thi ca.

Thi nhân Việt Nam dài non 50 trang, đọc nhẹ nhàng như một thể tùy bút, với lối văn đối thoại điềm đạm, dung dị mà dồn nén rất nhiều vấn đề, từ cuộc biến thiên lớn nhất trong xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX đến những biến thái nhỏ nhất trong bước đường thơ của một tác giả.

Cắt nghĩa nguyên nhân phát sinh của thơ Mới, Hoài Thanh đã nhìn vấn đề từ gốc rễ của nguyên nhân xã hội :Những đồ dùng kiểu mới ấy chính đã dẫn đường cho tư tưởng mới (một cái đinh cũng mang theo nó một chút quan niệm của phương Tây về nhân sinh quan, về vũ trụ, và có ngày ta sẽ thấy nó thay đổi cả quan niệm của phương Đông”. Ông nói đến cái mầm của thơ Mới mọc lên từ nền kinh tế hàng hóa mà người lái buôn phương Tây thứ nhất đặt chân lên xứ ta từ hồi Trịnh Nguyễn phân tranh đã bắt đầu gieo mầm. Theo Hoài Thanh, từ đó xã hội, con người Việt Nam mới bắt đầu ý thức về thời gian. Từ đó, chỉ năm sáu mươi năm mà dài như năm sáu mươi thế kỷ, xã hội Việt Nam đi từ sự Âu hóa về “cơ cấu vật chất”, đến “tập quán sinh hoạt”, đến “sự vận động của tư tưởng” và cuối cùng là “nhịp rung cảm – chỗ sâu kín nhất trong hồn ta”.

Những trang viết về thơ Mới trong cuộc giao tranh với cái cũ, là những trang tư liệu quý giá thể hiện bằng một giọng văn dí dỏm, thông minh. Thú vị và cảm động nhất là ở đây không chỉ thể hiện những con số mà còn là bộ mặt của diễn đàn văn chương thuở ấy cùng với những bóng dáng, thân phận của nhà thơ, nhà văn với tâm trạng, cách thế và ngôn ngữ của họ, trong cái giờ khắc giao thừa của hai giai đoạn văn học ấy.

Về sự hình thành của các khuynh hướng, phong cách và đặc trưng, hình thức của thơ Mới, Hoài Thanh đã miêu tả theo quan điểm đồng đại và lịch đại. Ông có cái nhìn rất rộng và biện chứng về những dòng thơ :Cố nhiên trong thực tế, ba dòng ấy không có cách biệt rõ ràng như thế. Nếu ta nghĩ đến dòng sông thì đó là những dòng sông nước tràn bờ và luôn luôn giao hoán với nhau”.

Chia xu hướng theo ảnh hưởng, đó là cách làm mà bản thân Hoài Thanh chưa thấy hài lòng. “Viết xong đoạn trên này đọc lại tôi thấy khó chịu. Mỗi nhà thơ Việt hình như mang nặng trên đầu năm bảy nhà thơ Pháp (…). Sự thực đâu có thế. Tiếng Việt tiếng Pháp khác nhau xa. Hồn thơ Pháp hễ chuyển được vào thơ Việt là đã Việt hóa hoàn toàn”. Nhưng có lẽ trong tình hình văn học lúc ấy khi trong thi ca nhân tố tự tại thì ít, yếu tố ngoại nhập lại lớn lao, việc xem xét theo khía cạnh ảnh hưởng là hợp lý, có khả năng bao hàm cả những vấn đề về đề tài, phong cách, thi pháp, cảm hứng nghệ thuật…, điều đó đã giúp Hoài Thanh phân tích thành công cụ thể từng nhà thơ.

Đặc biệt, trong mỗi dòng thơ Hoài Thanh đã xác định vị trí của từng nhà thơ. Đây là một việc làm rất tế nhị, đòi hỏi sự dũng cảm của nhà phê bình, nhưng Hoài Thanh đã làm được và làm có sức thuyết phục, bởi sự chính xác và tính vô tư.

Dừng lại ở con đường tự hoàn thiện về đặc trưng thể loại và tư duy nghệ thuật của thơ Mới, Hoài Thanh vừa miêu tả theo tiến trình, vừa phát biểu về thơ. Trong niềm vui mừng, say sưa về những thành tựu rực rỡ, huy hoàng của thơ Mới, ông đã bắt đầu nói đến nỗi lo của ông về “cái thói bắt chước vô ý thức đang lưu hành trong làng thơ như một cái họa”; ông lưu ý về cái mà ông cho là ngông cuồng trong thơ, nhưng vẫn bằng một giọng văn rất khiêm tốn, dè dặt, như khi viết về nhóm Xuân Thu Nhã tập :Họ chạm trổ rất tỉ mỉ, không phải những rồng những phượng như ngày trước mà những gì chẳng ai biết tên. Những gì đó đôi khi cũng đẹp. Đôi khi hình như họ diễn tả được những điều sâu kín nhưng lời thơ rắc rối quá, dầu sao phần đông chúng ta cũng đành… kính nhi viễn chi (…). Nếu các nhà thơ bí hiểm này chỉ có vài ba người thì chẳng sao, chưa biết chừng họ sẽ làm giàu cho thơ ca Việt Nam cũng nên. Tôi chỉ sợ các thi nhân ta đều đua tranh nhau vào con đường tối tăm ấy. Rồi thơ sẽ thành món tiêu khiển riêng cho ít người nhàn rỗi không còn ăn thua gì đến cuộc đời chung”.

Và Hoài Thanh khẳng định với mình, cũng như với mọi người :Không, từ bao giờ đến bây giờ, từ Homère đến Kinh Thi, đến ca dao Việt Nam, thơ vẫn là một sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại. Nó ra đời giữa những vui buồn của loài người, và nó sẽ kết bạn với loài người cho đến ngày tận thế.”

Nẻo về của thi ca, với Hoài Thanh là “cốt tìm ta” hãy cứ đi sâu diễn tả tâm hồn Việt Nam, và tiếp thu di sản cha ông.

Ý nghĩa của “…đi sâu vào hồn một người ta sẽ gặp hồn một nòi giống, đi sâu vào hồn một nòi giống, ta sẽ gặp hồn chung của loài người” là Hoài Thanh xác định một hướng khai thác của văn học Việt Nam trước “tình thế tưởng chừng như lúng túng”, khi một bộ phận nhỏ thơ ca có khả năng lạc vào những ngõ tối của những tình ý vay mượn giả tạo. Đó cũng là thao thức chung của những nhà văn có tâm huyết với nền văn học dân tộc thuở ấy. Họ đi tìm điểm tựa để khẳng định vị trí của nền văn học Việt Nam trễ muộn của mình. Dường như trước họ, người ta – những nhà văn thế giới – đã đi mòn cả đường, “tất cả mọi vấn đề mà một nhà văn có thể viết được, người ta đều đã viết cả”. Vậy chúng ta có thể viết gì đây ? Dựa theo gợi ý của một tác giả nước ngoài, Thạch Lam đã trả lời :Chúng ta có thể chỉ có thể sánh vai các nhà văn nước ngoài khi chúng ta đi sâu vào tâm hồn của chúng ta mà thôi”.

Hoài Thanh thừa nhận rằng :Trong thi phẩm mười năm nay ta đã thấy hiện dần cái hình ảnh mới của người Việt Nam”, nhưng ông còn yêu cầu cao hơn :Cần những gì vĩnh viễn, sâu sắc hơn mà bình dị hơn trong linh hồn nòi giống để có thể làm nao lòng hết thảy người Việt Nam”.

Cuối cùng, Hoài Thanh xác định tinh thần của thơ Mới, điều mà từ những trang đầu ông đã nói đến như một nhân tố chủ yếu để thơ Mới ra đời :Về đại thể, có thể gồm lại những chữ “tôi” (trong khi thơ cũ là chữ ta) và quan niệm về cá nhân.

Ý thức về cá nhân xuất hiện trong xã hội và trong văn học Việt Nam là một bước tiến lớn, có ý nghĩa cách mạng, nhìn về khía cạnh giải phóng con người. Nhưng ý thức cá nhân ở Việt Nam vừa mới ra đời đã không được một thiết chế xã hội tương ứng đảm bảo để nó phát triển toàn diện như mục tiêu lý tưởng mà con người mong mỏi.

Cái tâm thế chênh vênh, khắc khoải, cô đơn của con người thuở ấy đã đi vào thơ Mới, không thể hiểu một cách đơn giản là sự bế tắc hay xu hướng suy đồi, trụy lạc, tắc tị của cá nhân và của thơ ca.

Về phương diện con người, đó là một trạng thái tinh thần có khả năng dẫn đến bi kịch – nhưng bi kịch không đồng nghĩa với sự tiêu cực, tha hóa, có khi còn ngược lại – và về phương diện văn chương, đó là một phản ứng với hoàn cảnh đương thời; đó là những điềm dự báo, là những dấu hiệu thức tỉnh về một tình trạng xã hội cần phải đổi thay :Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh (…). Thực chưa bao giờ thơ Việt Nam buồn và xôn xao như thế. Cùng lòng tự tôn, ta mất luôn cả cái bình yên thời trước (…). Phương Tây đã giao trả hồn ta lại cho ta. Nhưng ta bàng hoàng vì nhìn vào đó, ta thấy một điều, một điều cần hơn trăm nghìn điều khác : một lòng tin đầy đủ.

Tóm lại, những hoạt động và tác phẩm của Hoài Thanh trong giai đoạn này cho thấy ông đã có một đóng góp hết sức phong phú. Bên cạnh sự am hiểu sâu sắc về văn học và về thời đại, ở Hoài Thanh còn có sự nhất quán và cởi mở của những quan điểm lý luận, sự tài hoa tinh tế và nhạy cảm của ngòi bút phê bình. Hoài Thanh đã và sẽ là nhà phê bình có một vị trí khó thay thế trong lịch sử phê bình Việt Nam.” – Nguyễn Thị Thanh Xuân

x

x    x

Đây là lời bạt cuối sách Thi nhân Việt Nam – Hoài Thanh, Hoài Chân

Hỡi người bạn đã theo tôi đến đây ! Bạn hãy cho tôi được nói vài lời nhỏ to… tâm sự. Có lẽ tôi đã kể lể với bạn nhiều lắm, nhưng bao giờ giữa chúng ta cũng có một người thứ ba. Bây giờ thì khác, bây giờ trong chỗ riêng tư chỉ còn bạn với tôi.

Khi tôi bắt đầu viết quyển sách này, đây đó người ta bảo tôi :Cây leo thà leo cây đa chứ leo gì những loài thảo mộc nhỏ”. Nhưng dầu tôi có tự rẻ rúng đến đâu cũng không bao giờ nuôi cái mộng làm một cây leo, nghĩa là cái mộng “hôi” chút danh thừa. Tôi biết quyển sách này ra đời sẽ chỉ đưa về cho tôi một mớ ác cảm. Hàng trăm người sẽ bảo tôi mù vì không trích thơ họ. Những người, thơ trích ít, sẽ nghĩ đáng lẽ phải trích thơ họ nhiều hơn. Những người, thơ trích nhiều, sẽ khó chịu vì thấy tên mình bên cạnh những tên họ khinh rẻ. Và bạn hơn nữa, hỡi người bạn không quen biết ! Tôi biết bạn cũng sẽ trách tôi sao lại trích nhiều bài thơ bạn thấy dở và bỏ sót nhiều bài bạn cho là hay.

Nhưng Chế Lan Viên hoàn toàn bất mãn về tập “Điêu tàn” mà cho rằng hai câu vịnh đá vọng phu của Quách Tấn :

Lụy nhớ mưa ngàn tuôn nượp nượp;

Tóc thề mây núi tóc bạc phơ phơ.

là “những câu đẹp nhất trong những câu đẹp nhất mà văn chương Việt Nam có thể có”. Huy Cận rất thích bài “Thân thể” (trong “Lửa thiêng”) mà bao người cho là dở. Một nhà nho nghe đọc hai câu :

Em sợ lắm. Giá băng tràn mọi nẻo;

Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da.

(Lời kỹ nữ)

chê Xuân Diệu “học lực” kém và nói quả quyết rằng nếu Xuân Diệu chuyên tâm học thơ mười năm sẽ chẳng viết những câu chơi vơi như thế.

Biết làm sao chiều lòng được tất cả mọi người ? Âu là tôi chỉ chiều tôi vậy.

Song cũng có nhà thơ có tài mà vì lẽ này hay lẽ khác tôi không thể nói đến. Cũng như có bài thơ hay không thể trích được.

Bạn hỏi tôi :Thi sĩ đâu mà lắm thế ? Mới mười năm mà trên bốn chục người ! Thời đại này dầu phong phú cũng không lẽ thế”. Nhưng bạn hãy nghĩ : Báo “Đông Pháp” vừa mở một cuộc thi thơ, tất cả có 1.500 người dự. Đó chỉ là thơ cũ, một thứ thơ còn ngoi ngóp. 1.500 thi sĩ cùng ra đời một lần ! Trong nước ta có bao nhiêu người biết đọc biết viết là có chừng ấy thi sĩ. Có lẽ số thi sĩ lại nhiều hơn cũng nên. Chán chi người không biết đọc biết viết cũng làm thơ. Mà thơ họ vị tất đã thua thơ người có học.

Vậy nước ta có bao nhiêu thi sĩ ? 40.000 hay 400.000 ? 4.000 người có thơ đăng báo in sách, chừng 40 người có trích trong quyển này, và may mắn ra 4 người sẽ có tên lưu truyền hậu thế !

Nhưng tôi là người thời bây giờ. Dầu vui dầu buồn, tôi muốn sống cái đời bây giờ đã. Có những bài thơ tôi say mê mà người sau sẽ thấy không có gì. Thì mặc họ chứ. Nói gì người sau. Chính tôi ngày mai đây biết có còn rung động vì tất cả những bài thơ hôm nay tôi trích ? Nghĩ thế nên hôm nay tôi hết sức rộng rãi với tôi. Bài thiệt hay trích đã đành, bài hay vừa tôi cũng trích. Lại có khi trong một bài chỉ được bốn năm câu; nếu những câu ấy không dẫn vào trong bài tôi viết thì tối tăm nên tôi cũng đành trích trọn bài thơ. Tôi sợ thiếu không sợ thừa. Tôi muốn ghi hết những vui buồn của thời đại. Tôi chỉ dè dặt với những nhà thơ ai cũng biết. Xuân Diệu có 15 bài trích, nhưng ngoài 15 bài ấy vẫn còn nhiều bài hay. Các nhà thơ có tiếng đại khái đều thế. Ngoài ra với các nhà thơ ít người biết, hễ bài nào trích được là tôi trích.

Nếu xem thơ, bạn thấy mệt, ấy là lỗi tự bạn. Quyển sách này không phải sách xem hết một lần. Và bạn cũng nên nghĩ rằng, tuy còn bỏ sót nhiều, ít ra tôi cũng đã xem năm mươi quyển thơ như quyển này. Lắm khi xem một trăm bài thơ, chỉ có một bài trích được. Tôi đã đọc tất cả một vạn bài thơ và trong số ấy có non một vạn bài dở. Nếu làm xong quyển sách này, mà không chê chán vì thơ ấy là điều tôi rất mong mỏi.

Vậy nếu trong quyển này ít khi tôi nói đến cái dở, bạn hãy tin rằng không phải vì tôi không thấy cái dở. Nhưng tôi nghĩ rằng đã dở thì không tiêu biểu gì hết. Đặc sắc mỗi nhà thơ chỉ ở trong những bài hay. Mỗi bài thơ hay là một cánh cửa mở cho tôi đi vào một tâm hồn. Những tâm hồn không lối vào, những tâm hồn bưng bít, thì tôi còn biết gì mà nói. Chủ nhân không mở cửa, tôi đành chịu đứng ngoài. Cho nên gặp thơ hay, tôi triền miên trong đó. Tôi ngâm đi ngâm lại hoài, cố lấy hồn tôi để hiểu hồn người. Thỉnh thoảng có nói đến cái dở là cũng cốt cho nổi cái hay mà thôi. Chứ dở thì giữa đời thiếu gì mà phải đi tìm trong thơ ! Nói chắc bạn không tin, nhưng thực tình tôi chẳng muốn chê ai mà cũng chẳng muốn khen ai. Tôi chỉ muốn hiểu cho đúng – không phải cho đủ – hình sắc các hồn thơ.

Và như thế tôi đã phải cố gắng nhiều lắm. Trong số các nhà thơ có nhiều người tôi đã gặp giữa đời. Có người thơ tuyệt đẹp mà đối với tôi lại toàn những cử chỉ rất mực xấu xa. Họ phũ phàng, họ nhỏ nhen… Nhưng thôi, tôi nói ra làm gì. Những cử chỉ xấu kia chỉ là bề ngoài; phần sâu sắc nhất trong tâm hồn họ đã ghi dấu lại nơi những vần thơ đẹp. Tôi tin như thế. Đừng ai làm tôi hết lòng tin.

Trái lại, có những nhà thơ tử tế với tôi vô cùng mà thơ của họ tôi lại chỉ thích… có hạn.

Nếu bảo rằng tôi không ái ngại người này, không khinh ghét người kia, thì e là không thực. Nhưng ái ngại hay khinh ghét, khi xem thơ tôi chỉ biết có thơ. Tôi không hề nghĩ đến danh vọng của người hay của tôi. Danh vọng quý thật, nhưng còn có điều quý hơn danh vọng, quý hơn hết thảy : lòng ngay thẳng, mà ít nhất cũng phải giữ trọn trong văn chương.

Bạn chớ tìm tất cả những điều tôi nói trong những bài thơ tôi trích. Những điều ấy đôi khi chỉ có trong những bài không trích. Muốn hiểu rõ tôi nói có đúng hay không bạn phải xem trọn thơ từng người một. Và phải xem kỹ. Hầu hết những bài thơ hay, có đọc đi đọc lại nhiều lần mới thấy hay.

Có lẽ bạn đương chờ tôi phân ngôi thứ trong làng thơ xem ai nhất, ai nhì… Bạn sẽ thất vọng. Tôi chỉ ghi lại cảm tưởng khi xem thơ nên bài viết dài ngắn không chừng. Bạn cũng đừng so sánh thơ trích nhiều ít. Ai lại lấy số trang, số dòng mà định giá một nhà thơ ?

Có lẽ bạn đương chờ những bài nghiên cứu vô tư và khách quan. Bạn cũng sẽ thất vọng nốt. Vô tư thì tôi đã vô tư hết sức, nhưng khách quan, không. Tôi vẫn có thể vờ bộ khách quan và mặc cho những ý riêng của tôi cái lốt y phục của mọi người. Nhưng việc gì phải khổ sở thế ? Chạy đi đâu cũng không thoát khỏi cái tôi thì tôi cứ là tôi vậy. Hay dở tính trời.

Có một lần viết về lịch sử phong trào thơ mới, tôi đã định bặm miệng – y hệt những nhà học giả tập sự. Nhưng chỉ được vài trang, vui buồn lại cứ theo ngòi bút hiện trên trang giấy. Tôi dửng dưng sao được ? Tôi đã sống trong lòng thời đại. Kể lịch sử thời đại làm sao có thể không nhớ lại những năm tháng vừa qua trong đời tôi. Cũng như nói về các nhà thơ tôi thích làm sao lời nói của tôi không đượm chút bâng khuâng như lúc tôi xem thơ.

Bạn sẽ lấy làm lạ sao tôi có thể thích những lối thơ trái ngược hẳn nhau : Nguyễn Nhược Pháp với Chế Lan Viên, Thái Can với Xuân Diệu ? Chính tôi cũng lấy làm lạ. Nhưng sự thực là thế. Sự thực khi xem Nguyễn Nhược Pháp, tôi không còn nhớ Chế Lan Viên; và khi xem Thái Can, tôi đã quên hẳn Xuân Diệu. Giả sử tôi chỉ thích một lối thơ thì “phải lẽ” hơn. Nhưng muốn cho “phải lẽ”, tôi sẽ phải giết chết một nửa lòng tôi. Tôi không nỡ.

Nhưng thơ ra đời trong mười năm nay đã nhiều lại nhiều khuynh hướng. Tôi cố đưa một tí trật tự vào chỗ vốn chẳng có trật tự gì. Tôi chia làm ba dòng : dòng Pháp, dòng Đường và dòng Việt. Ấy cũng là liều. Tôi đã phân vân nhiều lắm trước khi dám liều như vậy. Bởi người ta có thể tìm trong làng thơ những xóm như :

Xóm Sông Thương : Bàng Bá Lân, Anh Thơ.

Xóm Tự lực : Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận.

Xóm Phương Đông : Lưu Trọng Lư, Thái Can,…

Xóm Huế : Phan Văn Dật, Nam Trân, Nguyễn Đình Thư,…

Xóm Bình Định : Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên,…

Xóm Hà Tiên : Đông Hồ, Mộng Tuyết, vân vân…

Nhưng trong các xóm dân ngụ cư nhiều quá không có gì thuần nhất. Và khi đã chia xóm, rồi lại phải đặt “trùm xóm”, cũng lôi thôi.

Tôi chợt thấy từ trước đến nay tôi không gọi các thi sĩ bằng ông. Tôi biết nói thế nào cho trôi sự xấc xược ấy. Chỉ có một điều rõ là nếu tôi gọi Thế Lữ chẳng hạn, bằng ông, tôi sẽ bớt yêu “Mấy vần thơ” nhiều lắm. Như có ai lấy làm khó chịu vì cách xưng hô ấy, tôi đành xin lỗi vậy. Luôn thể tôi cũng xin lỗi vì đã tự tiện bỏ hầu hết những lời đề tặng trên các bài thơ. Trong một quyển hợp tuyển những lời ấy sẽ thành vô nghĩa. Tôi chỉ giữ lại những lời đề tặng cần phải có mới hiểu được ý thơ. Dám mong sẽ chẳng ai bắt bẻ gì vì trong chuyện này chính tôi cũng đã phải… hy sinh chút ít.

Một quyển sách nói về thơ Việt mà mở ra không nhắc đến Nguyễn Du, tôi thấy như một sự bội bạc. Nghĩ thế tôi muốn tìm một câu gì trong truyện Kiều để in lên đầu sách. Sự tình cờ xui tôi nhớ lại câu :

Của tin, gọi một chút này làm ghi.

Đọc đi đọc lại riêng lấy làm đắc ý.

Quyển sách này ra đời, cái điều tôi ngại nhất là sẽ mang tên nhà phê bình. Hai chữ phê bình sao nghe nó khó chịu quá ! Nó khệnh khạng như một ông giáo gàn. Bình thì cũng còn được. Nhưng phê ? Sao lại phê ?

Vậy tôi viết gì đây và trong làng văn danh hiệu tôi là gì ? Chẳng hạn có thể gọi những bài tôi viết là tùy bút, tùy hứng,… Nhưng không lẽ tôi là một người tùy bút, một nhà tùy hứng, hay một tùy bút gia, một tiểu luận tác giả (hai chữ sau này của Ô. Đào Duy Anh dịch chữ essayiste).

Tôi không định khen chê ai. Nhưng sách ra sao cho khỏi những tiếng khen chê. Bạn chê, tôi xin chịu. Nhưng hoặc bạn có khen, hãy xin cùng tôi nhớ tới :

Các Ô. Phan Văn Dật, Trần Thanh Mại, Hà Xuân Tế, Thanh Tịnh, Bửu Kế là những người đã giúp tôi nhiều tài liệu.

Tôi cũng không quên cám ơn các nhà thơ đã cho phép tôi trích thơ, đã gửi ảnh và cho biết một hai điều về tiểu sử, tuy năm sinh ngày sinh tháng đẻ chắc nhiều khi chỉ được nhớ lại mang máng theo trí tưởng tượng những người làm giấy khai sinh.

Bạn sẽ lấy làm lạ sao tác giả hai người mà lại cứ xưng tôi. Sự thực thì hai người cũng như một. Không có ý nào, lời nào là của riêng ai.

Nhưng bây giờ quyển sách đã hết thiệt rồi, tôi lại biến thành chúng tôi, và chúng tôi xin ký cả hai tên cho đúng :

HOÀI THANH và HOÀI CHÂN

Đưa in lần thứ hai, hình như nên sửa đổi thêm bớt ít nhiều mới phải. Đây đó tôi vẫn thấy những đoạn không như ý, những lời bây giờ không đúng nữa. Nhưng sao tôi ngần ngại quá và sau cùng tôi nhất định cứ để nguyên – trừ những chữ lần trước in sai. Tôi đã nói đến 46 nhà thơ thì tôi cũng có thể nói đến 45 hay 47. Tôi đã trích 169 bài thơ số ấy cũng có thể là 168 hay 170. Song những điều vụn vặt ấy có quan hệ gì. Đây là một niềm tin tưởng cũng là hình ảnh một thời. Hình ảnh ấy một ngày nọ tôi đã ghi, dầu đúng, dầu không bây giờ tôi không muốn sửa chữa.

Novembre 1942

TÁC GIẢ