Duong-Quang-Ham-guong mat-tri-thuc-tieu-bieu-dau the-ky-XX

Dương Quảng Hàm – Gương mặt trí thức tiêu biểu đầu thế kỷ XX

Dương Quảng Hàm là tên tuổi quen thuộc trong giới nghiên cứu văn học sử Việt Nam hiện đại. Ông là một trong những tấm gương đẹp đẽ của một thời kỳ có tính khai sáng, mở đường cho nghiên cứu, đánh giá về văn chương dân tộc. Đời sau biết đến ông như một nhà nghiên cứu, một nhà giáo dục không hề mệt mỏi trên con đường dung hợp kiến thức các nền văn hóa Đông Tây.

Duong-Quang-Ham-va-gia-dinh

Nhà giáo Dương Quảng Hàm (ngồi, thứ 3 từ phải sang) và gia đình

Gương mặt trí thức tiêu biểu đầu thế kỷ XX

Dương Quảng Hàm sinh ngày 14-7-1898 trong một gia đình có truyền thống Nho học và yêu nước, quê quán tại làng Phú Thị, tổng Mễ Sở, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, nay thuộc xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Cha của ông là Dương Trọng Phổ, anh cả là Dương Bá Trạc – một trong những người sáng lập Đông Kinh nghĩa thục, trường học cách tân đầu tiên của Hà Nội, em là Dương Tụ Quán, đều là các danh sĩ có tiếng đương thời. Ông mất vào những ngày đầu toàn quốc kháng chiến năm 1946. 

Duong-Quang-Ham-guong mat-tri-thuc-tieu-bieu-dau the-ky-XX

Nhà giáo Dương Quảng Hàm

Dương Quảng Hàm nổi bật là nhà nghiên cứu văn học xuất sắc, có nhiều đóng góp cho văn học, giáo dục, văn hóa nước nhà. Ông là tác giả những quyển sách bổ ích và nổi tiếng :

– Quốc văn trích diễm, Nghiêm Hàm ấn quán Nxb, Hà Nội, 1925

– Lecon d’ Histoire d’ Annam (Những bài giảng lịch sử An Nam, 1927)

– Lectures littéraires sur L’ Indochine, 1929 (Bài tuyển văn học về Đông Dương, biên soạn cùng với Pujarnicle)

– Tập bài thi bằng sơ học yếu lược, 1927 (Soạn chung với Dương Tụ Quán)

– Recueil de dicteé au CEP (Những bài chính tả thi tiểu học), NXB Đông Tây, Hà Nội, 1929

– Văn học Việt Nam, 1939

– Việt văn giáo khoa thư, bậc Cao đẳng tiểu học, Nha học chính Đông Pháp xb, Hà Nội, 1940

– Việt Nam thi văn hợp tuyển, Nha học chính Đông Pháp xb, Hà Nội, 1943

– Việt Nam văn học sử yếu, Nha học chính Đông Pháp xb, Hà Nội, 1943

Những quyển sách viết về văn học Việt Nam xuất hiện những năm 20, 30 và 40 của thế kỷ trước, cho đến nay, vẫn là những tài liệu văn học hết sức bổ ích. Có thể nói, với tình yêu sâu sắc về nguồn cội dân tộc, để vừa đáp ứng yêu cầu giảng dạy vừa làm tư liệu cho người học, khi mà bốn bề không biết trông vào đâu, Dương Quảng Hàm đã tự nguyện gánh vác công việc hết sức nặng nề, đó là soạn các sách về văn chương Việt Nam.

Trong Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm bộc lộ tâm tình và ý nguyện về bộ sách :“Ai cũng biết rằng hiện nay không có quyển sách nào chép về văn học lịch sử nước ta, không nói gì những sách tham khảo tinh tường cho các học giả dùng, ngay đến những sách tóm tắt các đại cương cho học sinh dùng cũng không có… Chúng tôi cũng mong rằng quyển sách này sẽ là một bức bản đồ giản ước, theo đó các bạn thanh niên biết được phương hướng và đường lối chính để đi vào khu vườn văn học của nước nhà, ngõ hầu một ngày kia tìm thấy những hoa lạ quả quý hiện nay còn ẩn khuất trong đám cành lá rậm rạp, thì thật là hân hạnh cho chúng tôi lắm” (Xem Việt Nam văn học sử yếu, NXB Trẻ, 2005, trang 12-13).

Trong Văn học Việt Nam, xuất bản năm 1939, soạn cho Chương trình khoa giảng Việt văn ở ban Cao đẳng tiểu học, tác giả đi sâu vào những vấn đề cốt lõi của văn học, gồm : Phép tắc các thể văn / Tiểu truyện các tác giả / Việc lựa chọn các bài văn / Việc chú thích các bài văn / Phương pháp giảng nghĩa. Chỉ nhìn vào cách xây dựng nội dung bộ sách, đã thấy rõ tính khoa học, tính sư phạm, tính hiện đại của công trình, dẫu đây chỉ là sách giao khoa.

Việt Nam thi văn hợp tuyển là một tuyển tập có tính tiên phong trong việc tuyển chọn các tác giả, tác phẩm từ văn học dân gian, truyện nôm khuyết danh, đến các tác giả mới như Nguyễn Bá Học, Phan Kế Bính, Thân Trọng Huề, Nguyễn Khắc Hiếu, Bùi Kỷ, Phạm Duy Tốn, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi, Thiếu Sơn, Nguyễn Lân, Khái Hưng, Thế Lữ,… Có thể nói, nhờ bộ sách này, người đọc mới có điều kiện tiếp xúc với những trang viết của những nhà văn hiện đại.

Song, cuốn sách làm nên tên tuổi Dương Quảng Hàm, làm ngạc nhiên cho giới nghiên cứu đời sau, từng là sách tham khảo tin cậy, mẫu mực của nhiều thế hệ học trò, của nhiều nhà nghiên cứu văn học sử là bộ Việt Nam văn học sử yếu, một tập sách tích lũy kinh nghiệm hàng chục năm, biên soạn vào năm 1941 và xuất bản năm 1943. Việt Nam văn học sử yếu dày gần 700 trang, soạn cho Năm thứ nhất, Năm thứ nhì và Năm thứ ba ban trung học Việt Nam, là cuốn văn học sử phổ thông bằng chữ quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam.

Căn cứ BIỂU LIỆT KÊ CÁC TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM (theo thứ tự thời gian) và BẢNG KÊ TÊN (các tác giả và các tác phẩm có nói đến trong sách), thì có đến 1.083 tác giả và tác phẩm, xếp theo A,B,C, viết bằng tiếng Hán, tiếng Pháp và tiếng Việt được đưa vào tài liệu tham khảo. Bên cạnh đó, theo thời gian, niên đại, từ thế kỷ XI đến thế kỷ XX (1940), có 163 tác giả trung đại, cận đại và hiện đại xếp vào danh mục khảo cứu, trong đó có tới 293 tác phẩm, đủ đề tài, đủ thể loại. Trước Việt Nam văn học sử yếu chưa có một công trình văn học sử nào có khối lượng to lớn về kiến thức văn-triết-sử, về tài liệu tham khảo, về lịch sử khoa cử, về phân kỳ văn học đạt tầm vóc và quy mô đồ sộ như thế.

Dương Quảng Hàm dành 7 chương để giới thiệu nền văn học mới đầu thế kỷ. Những gương mặt sáng chói như Phan Khôi, Trần Trọng Kim, Phan Kế Bính, Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Trần Tuấn Khải, Đông Hồ, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Nhất Linh, Khái Hưng… được Dương Quảng Hàm trân trọng giới thiệu, đánh giá. Cuối sách, ông bày tỏ sự tin tưởng vào Tương lai của nền quốc văn mới.

Trong Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm dành nhiều trang viết cho việc giới thiệu các thể văn của Trung Quốc và Việt Nam thời trước, đặc biệt chú ý đến thi pháp (chữ dùng của Dương Quảng Hàm). Qua đây, người học biết đến thơ Đường luật, thơ cổ phong, các lối thơ riêng như thủ vĩ ngâm, thuận nghịch độc, yết hậu, lục ngôn thể, tiệt hạ, vĩ tam thanh, song điệp, họa vận, liên ngâm hoặc thể phú, văn tế, hay thể truyện, ngâm, hát nói,… Có điểm đáng biểu dương, nhiều sách khác không có, đó là phần viết về Ca Huế và hát bội.

Đặc biệt, tác giả bộ sách dành nhiều trang viết về các thi gia đời Lý, đời Trần, khắc họa chân dung những Trần Quang Khải, Nguyễn Trung Ngạn, Phạm Sư Mạnh, Đặng Dung, Trần Quốc Tuấn, Trương Hán Siêu,… Lần đầu tiên, trong sách giáo khoa, hai tên tuổi Nguyễn Trãi và Nguyễn Du được tạc dựng riêng, giới thiệu sự nghiệp văn chương, tư tưởng, triết lý,…

Tiếc rằng, phần ảnh hưởng của văn học phương Tây, nhất là văn chương Pháp, chưa nêu được nhiều, chưa cho thấy những dấu ấn sâu đậm của chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa tượng trưng vào Thơ Mới giai đoạn 1932-1945, làm nên thành tựu có một không hai trong lịch sử thơ ca Việt Nam. Chỗ này, Dương Quảng Hàm không bằng Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam, dù cả hai tác phẩm (Việt Nam văn học sử yếu Thi nhân Việt Nam) cùng ra đời trong một thời điểm.

vai-tac-pham-tieu-bieu-cua-Duong-Quang-Ham

Vài tác phẩm tiêu biểu của Dương Quảng Hàm

Về phương pháp viết văn học sử, Dương Quảng Hàm có tiếp nhận lý thuyết của những nhà phê bình, những nhà nghiên cứu văn học sử Pháp, tuy nhiên, với mục đích của sách là phục vụ chương trình Việt văn, nên phần lý luận về phương pháp phê bình không được tác giả chú ý xây dựng.

Đi tìm tư tưởng phê bình trong Việt Nam văn học sử yếu, rất khó, tản mạn. Đỗ Lai Thúy trong Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy, (NXB Hội Nhà văn và Nhã Nam, 2011) đã không xếp Dương Quảng Hàm vào những nhà phê bình văn học như Hoài Thanh, Trần Thanh Mại, Trương Tửu, Đinh Gia Trinh. Nghĩa là, tư tưởng phê bình không thấy ẩn hiện trong lý thuyết văn chương. Điều này cũng dễ hiểu và đáng chia sẻ, như đã nêu. Do chi phối bởi mục tiêu, đối tượng, Việt Nam văn học sử yếu vẫn là bộ sách giáo khoa ngữ văn. Tuy nhiên, điều đáng quý, đáng trân trọng, đó là, với sở học, với lòng yêu nước và tự hào dân tộc, dù dưới chế độ thực dân, Dương Quảng Hàm vẫn thể hiện rõ chính kiến và tấm lòng của mình đối với văn hóa, văn học của dân tộc. Tấm lòng này không chỉ thể hiện trong Việt Nam văn học sử yếu mà còn ở Văn học Việt Nam, Quốc văn trích diễm, Việt Nam thi văn hợp tuyển, Việt văn giáo khoa thư,…

Dương Quảng Hàm, người đặt nền tảng cho việc đưa nội dung văn học Việt Nam, số lượng tác giả, tác phẩm, thể loại văn học, phương pháp giảng văn, giảng nghĩa, chú thích, lược truyện, tiểu dẫn, câu hỏi,… vào trong dạy và học môn Việt văn từ những năm 1920 – 1930 đến nay. Điều cũng cần nói thêm, đó là văn phong Dương Quảng Hàm. Sách ông viết, hơn 80 năm về trước, giờ đây, đọc lại vẫn thấy mới mẻ trong ngôn ngữ và diễn đạt. Dương Quảng Hàm có ý thức cẩn trọng trong sử dụng tiếng mẹ đẻ để viết các công trình. Nhiều trang viết ở các tập sách của Dương Quảng Hàm vẫn là lối viết gãy gọn, súc tích, không dùng những mỹ từ bóng bẩy.

Trong lịch sử giáo dục về dạy-học văn của Việt Nam, từng có phương pháp giảng văn Dương Quảng Hàm. Ông có những đóng góp to lớn trong việc truyền tải nội dung, hình thức, phương pháp giảng văn trong nhà trường trung học Việt Nam nhiều thập kỷ.

Những năm tháng dạy học tại Trường trung học Bảo hộ, sau đổi thành Trường Bưởi (nay là Trung học Chu Văn An-Hà Nội), Dương Quảng Hàm góp phần đào tạo nhiều trí thức, nhân tài cho đất nước. Ông là nhà sư phạm mẫu mực, nhà giáo dục tâm huyết, nhà văn hóa kiệt xuất trong nửa đầu thế kỷ XX. Dương Quảng Hàm có tinh thần hiếu học, không ngừng học hỏi những tri thức mới của phương Tây, vận dụng kiến thức phương đông trên tinh thần độc lập, tự chủ và tự tôn dân tộc. Ông cũng có thái độ khiêm cung, cầu thị khi có những góp ý của đồng nghiệp, của báo chí về các quyển sách đã được in ra.

Dương Quảng Hàm mãi mãi là tấm gương sáng trên bầu trời văn hóa Việt Nam trong những thập niên đầu của thế kỷ XX.

Kỷ niệm 120 năm ngày sinh Dương Quảng Hàm (1898 – 2018) là dịp nhìn lại những cống hiến to lớn của ông cho văn học, giáo dục, đào tạo, đồng thời cũng nhận rõ chân dung một trí thức yêu nước, một tấm lòng cao cả, một trái tim nhiệt thành, suốt một đời hết mực hiến dâng cho văn chương, cho đất nước.

Huỳnh Văn Hoa

Ðể khắc họa rõ nét hơn về nhân dáng và tư cách của Giáo Sư Dương Quảng Hàm, xin trích ra sau đây những nhận xét của chính học trò cụ là học giả Nguyễn Hiến Lê, học sinh trường Bưởi, niên khóa 1929-1930 :

Mấy năm trước, những khi thấy cụ đi qua sân trường, tôi thường để ý : cụ đi bộ, lúc nào cũng rảo bước, cụ thấp bé mà bước những bước dài, nhón gót (người ta bảo là tướng yểu), như lúc nào cũng vội vàng – cụ có bao giờ biết thơ thẩn, mơ mộng không nhỉ ? – mà ngồi xe đạp thì trái lại, cụ đạp rất chậm, tốc độ đều đều, chỉ độ mười cây số một giờ, tới cửa lớp, cụ thận trọng hãm lại, cho xe nghiêng qua một bên, khoan thai bước xuống, gác xe, gỡ cái kẹp ống quần ra, tháo chiếc cặp phồng những sách vở, rồi ôm cặp tiến vô lớp. Gặp bạn đồng sự cụ niềm nở bắt tay, nhưng ít khi đứng lại để trò chuyện; cụ tới lớp không khi nào trễ, nhưng cũng không khi nào quá sớm, chỉ dăm ba phút là cùng, như vậy thì đâu có thì giờ để trò chuyện. Tôi có cảm tưởng cụ là một chiếc đồng hồ mà thì giờ của cụ đã tính trước đâu vào đấy hết. Chúng tôi phục cụ ở điểm đó.

Cụ sống rất giản dị. Từ nhà ở giữa phố Hàng Bông lên trường, đường dài vào khoảng ba cây số, mà quanh năm, Hè cũng như Ðông, mưa cũng như nắng, ngày nào cụ cũng chầm chậm đạp một chiếc xe cũ; suốt hai năm học cụ, tôi nhớ chỉ một hai lần cụ đi xe kéo vì mưa gió lớn quá hoặc vì trong mình khó ở. Có lần chúng ‘thổi’ mất chiếc xe của cụ và bọn chúng tôi được một dịp cười : con người cẩn thận như vậy mà cũng để mất xe ư ? Và chiếc xe ‘tàng’ như vậy mà chúng cũng ‘thổi’ ư ?

Y phục của cụ hình như chỉ có vài bộ, một cổ lỗ, nhưng lúc nào cũng sạch và có nếp. Tóc thì chắc chắn một tháng cụ mới húi một lần và chỉ khi nào húi cụ mới cạo râu, vì vậy râu cụ đã thưa lại lởm chởm, trông y như limailles de fer (mặt sắt, mài giũa) và chúng tôi dùng danh từ Pháp đó để đặt biệt hiệu cho cụ.

Sau đây thêm một chi tiết mà cũng theo Nguyễn Hiến Lê, là đã học được từ cụ “một bài học lặng lẽ và cao thượng” :

“Theo lệ, cụ mở cuốn sổ tay ra chấm tên một học sinh vào hạng trung bình. Anh này chắc cũng chỉ thuộc lõm bõm, trả được một vài câu rồi ngừng, thú rằng không thuộc. Cụ gọi thêm một anh khác, cũng không thuộc nữa. Cụ ngạc nhiên, hỏi tại sao ? Một anh bạo dạn đứng lên thưa rằng, chúng tôi không ai thuộc cả vì không ưa Jules Boissière, một tên thực dân không có cảm tình với dân tộc mình. Rồi chúng tôi trình với cụ tất cả những điều chúng tôi trách hắn. Cả lớp chờ sự phản ứng của cụ.

Cụ làm thinh một vài phút rồi bỗng nhiên tôi thấy hai giọt nước mắt lăn trên má cụ. Cụ vẫn ngồi yên nhìn xuống phía cuối lớp, cũng không lấy chiếc khăn tay nhỏ xíu bằng vải trắng để lau nước mắt nữa, mặc cho nó rơi xuống mặt bàn và tự khô trên má. Hôm đó cụ không cho điểm ai cả.

Hình bóng ấy của Dương Quảng Hàm chỉ có học trò của cụ ghi nhớ được. Thế hệ sau ít ai còn biết rõ. Ngay cả cái chết của cụ cũng không sách vở nào nói đến. Chỉ là lời đồn. Chỉ là nghe nói. Có nguồn tin kể rằng cụ bị chết cháy, trong một căn nhà bốc lửa khi tiếng súng nổ chát chúa xa gần. Ngoài cửa ngôi nhà, có vài cán bộ nhưng không có ai can thiệp. Có người nói cụ bị chết trong can qua. Những cuốn sách in ở Hà Nội vừa qua, nói cụ “mất” ở Hà Nội. Một cuốn in ở Sài Gòn nói cụ mất tích.”

Phải có một ngày sự thực hiện ra. Nhưng nó không tự nhiên hiện ra. Nếu các thế hệ sau không tìm hiểu, không tra vấn, không tìm lại những bài học lịch sử, lịch sử sẽ bị lãng quên hay bị biết đến trong sai lạc, cố ý hay vô tình.

Nguyễn Hiến Lê  (1912 – 1984)

ĐỌC MỘT BÀI NGHIÊN CỨU VỀ DƯƠNG QUẢNG HÀM VÀ BỘ MÔN VĂN HỌC SỬ VIỆT NAM

Về công trình Việt Nam văn học sử yếu (1943), công trình chủ yếu của nhà giáo, nhà nghiên cứu Dương Quảng Hàm (1898-1946), cho đến nay hầu như ít ai trong giới văn học lại nghi ngờ vai trò của nó như một trong những cuốn sách có thể được xem là sách gốc cho những ai mới bắt tay vào tìm hiểu văn học Việt Nam. Được tái bản hơn một chục lần cả trong nam ngoài bắc suốt 50 năm kể từ lần in đầu tiên, cho đến nay, nó có một vị trí, một ảnh hưởng không nhỏ trong sự hình thành nhận thức về văn học dân tộc ở nhiều thế hệ những nhà giáo, nhà văn, nhà nghiên cứu, nhà hoạt động xã hội và văn hóa từng làm quen với nó từ trên ghế các loại nhà trường; điều này đã và chắc sẽ còn có thêm minh chứng là các trang hồi ký của những lớp người ấy.

Tuy được in lần đầu vào năm 1943, nhưng bản thảo đã được tác giả hoàn thành từ 1939 (đây là căn cứ vào hồi ức của người trong gia đình tác giả; trên văn bản thì lời dẫn của tác giả ghi tháng 6-1941) và nếu cố gắn công trình này với tất cả những công trình của Dương Quảng Hàm về văn học sử Việt Nam, thì phải nói là nó đã được tác giả khởi thảo từ đầu những năm 1920, sau khi tốt nghiệp khóa đầu tiên trường Cao đẳng sư phạm, về dạy học ở trường Trung học bảo hộ ở Hà Nội (trường Bưởi). Có thể nói là tác giả đã đi từ những cuốn sách giáo khoa cùng loại nhưng có quy mô nhỏ hơn, yêu cầu bao quát thấp hơn như Quốc văn trích diễm (in lần thứ hai 1925), Việt văn giáo khoa thư bậc cao đẳng tiểu học (in lần đầu 1940) để đi tới bộ Trung học Việt văn giáo khoa thư mà Việt Nam văn học sử yếu là quyển I, cùng với nó để thành trọn bộ là quyển II: Việt Nam thi văn hợp tuyển.

Phải nói rằng hoạt động biên khảo ít nhiều chuyên biệt này (soạn sách giáo khoa) của Dương Quảng Hàm là đồng thời (tuy khởi đầu có thể là hơi muộn hơn) so với một loạt những hoạt động học thuật mạnh mẽ, sôi động suốt nửa đầu thế kỷ XX mà nội dung là kiểm lại di sản văn học, di sản văn hóa tinh thần của người Việt từ quá khứ đến đương thời. Nói về giai đoạn này, lâu nay sách báo nghiên cứu thường chỉ đề cập đến những sự kiện như là sự ra đời của nền văn xuôi nghệ thuật mới và “thơ mới” mà còn chưa cho thấy thật rõ vai trò của những hoạt động học thuật này, nó là một nền học thuật mới, trên thực tế đã làm cơ sở cho những hoạt động đổi mới ở sáng tác. Cho đến nay vẫn có thể hình dung mà không sợ sai lầm rằng ngay những tên tuổi hàng đầu của văn xuôi mới và thơ mới cũng phải nể trọng các học giả tên tuổi cùng thời.

Việt Nam văn học sử yếu không phải là quyển sách duy nhất trong loại của nó, ngay ở đương thời, nếu ta nhớ đến một loạt cuốn sách hoặc bài vở khảo cứu của những tác giả như Phan Kế Bính, Bùi Kỷ, Đào Duy Anh, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Phan Khôi, Lê Dư, Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Đổng Chi, Ngô Tất Tố, v.v, và v.v… Đề tài về tương quan, tương hỗ, thừa kế giữa Việt Nam văn học sử yếu và toàn bộ sách báo khảo cứu đương thời hẳn là một đề tài thú vị mà ở đây xin tạm gác sang một bên để nêu một nhận xét: dường như ngành nghiên cứu văn học, nhất là bộ môn văn học sử Việt Nam, cũng chỉ mới ra đời từ những thập niên này (từ 20 đến 40) của thế kỷ XX.

Phải chăng nhận xét này là hồ đồ? Một nền văn học, một nền trứ thuật đã có lịch sử 10 thế kỷ (đấy là chỉ nói văn học viết) lẽ nào đến lúc này mới hình thành ngành nghiên cứu lịch sử văn học? Phải như vậy chăng, và nếu vậy thì tại sao chứ? Có lẽ các nhà nghiên cứu chuyên về thời trung đại và cận đại sẽ làm sáng tỏ điều này tốt hơn tôi. Dẫu sao tôi cũng in góp ít lời bàn, trên cơ sở những kết quả nghiên cứu đã có của các bậc đi trước chứ không phải kết quả nghiên cứu trực tiếp của bản thân tôi. Xin nói rõ hơn: tôi sẽ dựa vào các khảo sát của nhà thư tịch học Trần Văn Giáp (1902-1973) trong công trình Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (tập I: 1984; tập II: 1990).

***

Trong nền trứ thuật thời trung đại, lĩnh vực được ưu tiên hàng đầu là sử. Ở công trình nói trên, học giả Trần Văn Giáp kiểm được tới 64 bộ sách thuộc loại thông sử, trong đó có những bộ rất lớn do những tập thể hoặc cá nhân sử gia kiêm quan chức có tầm học vấn cao, biên soạn. Nếu kể thêm các sách nói về khảo cổ, về tổ chức nhà nước, pháp lý, quân sự − là những tư liệu lịch sử quý cho đời sau − con số ấy lên đến 99 bộ. Lại kể thêm các sách nói về giáo dục, các sách gọi là “truyện ký” nhưng có nội dung sử, các bộ phả ký, − con số lên tới 165 bộ. Nếu ta cộng thêm những sách mà Trần Văn Giáp xếp vào phần địa lý (dư địa chí, sơn xuyên, lý lộ, địa phương chí) − mà hậu thế hẳn phải dùng như tài liệu lịch sử − ta thấy con số lên đến 202 bộ sách, chiếm gần một nửa số sách Hán Nôm mà Trần Văn Giáp đã kiểm (202/428 bộ sách).

Có thể nêu một nhận xét: phần lớn các trứ tác sử học thời trung đại đều thuộc loại sử ký, sử biên niên, ưu tiên ghi chép các sự kiện và nhân vật liên quan trực tiếp đến chính sự. Tính chủ động, chủ kiến của sử gia thường tập trung vào việc nhận định, đánh giá (những “nhận định, đánh giá” này thường nằm ngoài văn bản, hoặc chỉ gói gọn trong văn bản dưới dạng vài lời phê thật ngắn) để xem các triều đại này hay khác là chính hay ngụy, để ghi thành bản kỷ hay ngoại kỷ, các nhân vật này là minh quân, lương tướng, công thần hay là hôn quân, tặc thần, bạn nghịch, v.v… Chẳng những chỉ hoàn toàn đứng bên trong đời sống chính trị một quốc gia mà thôi, sử gia thời trung đại ở ta còn hầu như chỉ hoàn toàn đứng bên trong và tự đồng nhất với lập trường chính thống của triều đại đương quyền, dùng cái nhìn thuần túy “nội quan” này để mô tả các biến cố từ quá khứ đến hiện tại. Mặc dù thấm nhuần tư tưởng về lẽ biến dịch của sự vật, thừa nhận tính tất yếu của những biến chuyển từ trị sang loạn, từ loạn sang trị trong đời sống chính trị của quốc gia, nhưng sử gia trung đại dường như vẫn hình dung mọi biến dịch ấy là nằm trong một trạng thái tĩnh tại phổ quát hơn − cái tĩnh tại được cảm nhận như sự lặp lại của các chu kỳ biến dịch, và được ghi dấu bằng những mốc thời gian tuần hoàn. Khó mà tìm thấy ở sử gia trung đại một ý niệm về tiến triển, tiến hóa, càng khó tìm trong các bộ sử trung đại những dòng phân tích về các quá trình chiều sâu, từ động lực đến các hệ lụy của các biến cố lịch sử.

Trọng tâm ghi chép của sử ký, sử biên niên chỉ là những thay đổi về triều đại, về ngôi vị, về những gì liên quan đến hoạt động của nhà nước trung ương (triều đình). Do vậy có thể hiểu được là vì sao hàng loạt các phương diện của đời sống xã hội dân tộc như kinh tế, văn hóa, tôn giáo, kỹ nghệ, v.v… đã không trở thành đối tượng theo dõi ghi chép thường xuyên của các trứ tác sử học, ngay của sử ký, dù rằng đây đó, qua các bộ sách sử còn lại, vẫn có thể tìm được nhiều đoạn, nhiều chi tiết lẻ về các phương diện này.

Trong kho sách Hán Nôm còn lại, tính đến hết thế kỷ XIX, thậm chí cả  một số sách được viết vào đầu thế kỷ XX, tôi không thấy ông Trần Văn Giáp khảo đến một cuốn sách nào thuộc loại văn học sử hay văn hóa sử.

Cố nhiên, bằng vào các thư tịch Hán Nôm, có thể nói đến một bộ phận khá lớn những trứ tác mang tính học thuật, đề cập đến văn hóa, văn học, và do đó có thể nói đến một ngành nghiên cứu văn học hay ngữ văn học theo nghĩa rộng ở thời trung đại.

Dạng sớm nhất có lẽ là những bộ hợp tuyển thơ văn. Ở công trình của mình, Trần Văn Giáp nêu được 13 tên sách thuộc loại này. 10/13 tên sách thuộc về thơ, xưa nhất là Việt âm thi tập (1433), muộn nhất là Quốc triều thi lục (1929). Chỉ có hai bộ tuyển văn mà lại trùng nhau, kế thừa nhau: Hoàng Việt văn hải của Lê Quý Đôn như là tiền thân Hoàng Việt văn tuyển (1788) của Bùi Huy Bích. Và duy nhất một tuyển tập cho thể phú: Quần hiền phú tập (1457, trùng san 1729). Ở những bộ tuyển quy mô, công phu, có thể lệ biên soạn chặt chẽ, các soạn giả thường xếp các tác giả và tác phẩm theo các triều đại, từ xa xưa đến đương thời; điều này tự nhiên tạo ra ý niệm nào đó về tiến trình văn học, nhưng chưa thể xem các tuyển ấy như các bộ văn học sử.

Loại trứ tác gần gũi hơn cả với ngữ văn học hiện đại chính là những cuốn như Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa (của Pháp Tính), Thi vận tập yếu (của Phạm Thiệu),Tam thiên tự giải âm (của Ngô Thì Nhậm), Khâm định tập văn trích yếu (của nhiều soạn giả, khắc in thời Minh Mạng), Nhật dụng thường đàm (của Phạm Đình Hổ), Đại Nam quốc ngữ (của Nguyễn Văn San), Nam phương danh vật bị khảo (của Đặng Xuân Bảng), v.v… Theo mô tả của Trần Văn Giáp, đây đều là dạng những cuốn từ điển Hán – Nôm (Hán – Việt) hặoc từ điển chữ Nôm. Trong loại này không ít cuốn giữ vai trò của sách giáo khoa, tức là sách dạy chữ (nho), gần gũi với những cuốn được dùng rộng rãi như Nhất thiên tự, Ngũ thiên tự, Sơ học vấn tân, Ấu học ngữ ngôn thi, v.v…

Loại trứ tác gần với phê bình hiện đại chính là những bài tựa, bài bạt, đề từ…, ở đây, nếu trừ đi những lời lẽ gắn với nhu cầu khen ngợi, đề cao − như một nghi lễ giao tiếp, − vẫn thấy còn lại nhiều nhận xét phẩm bình có ích cho người nghiên cứu đời sau. Tuy vậy, loại trứ tác này thường xem xét tác phẩm một cách cô lập, tách khỏi tiến trình văn học. Nói đúng hơn là ở giới nhà nho còn chưa hình thành một kiểu tư duy nhằm hệ thống hóa các tri thức và dữ liệu về tiến trình văn học Việt Nam để có thể làm cơ sở cho những bài viết thuộc loại này.

Gần với kiểu nghiên cứu (và phần nào cả lý luận) ngày nay, trong di sản Hán Nôm, là những ghi chép mang tính chất tạp bút, được tập hợp trong những cuốn sách mà ông Trần Văn Giáp xếp vào loại sách có nội dung tổng hợp, gọi theo thuật ngữ thư mục học là loại thư. Ông đã kiểm và khảo khá kỹ 12 tên sách Hán Nôm thuộc loại này, như: Vũ trung tuỳ bút và Quần thư tham khảo (của Phạm Đình Hổ),Sơn cư tạp thuật (khuyết danh), Lữ trung tạp thuyết (của Bùi Huy Bích), Lịch triều hiến chương loại chí (của Phan Huy Chú), Thoái thực ký văn (của Trương Quốc Dụng), Kiến văn tiểu lục và Vân Đài loại ngữ (của Lê Quý Đôn)… Loại sách này, nếu nhiều nhà nghiên cứu trước và sau Trần Văn Giáp thường mô tả như là tuỳ bút, là thuộc thể ký (để vạch một dấu nối với thể ký hiện đại), thì Trần Văn Giáp lại muốn nhìn chúng như loại sách có tính chất như kiểu bách khoa thư. Chỗ khác biệt so với kiểu bách khoa thư của phương Tây, theo ông, chỉ là chỗ ở phương Tây người ta xếp các từ mục (về từng đối tượng miêu tả) theo một dấu hiệu hình thức hóa là vần chữ cái để tiện tra cứu, còn ở phương Đông thì các soạn giả thường chia riêng theo từng môn loại, tuỳ ý tác giả và nội dung cụ thể của mỗi cuốn sách. Cố nhiên, các cuốn sách nêu trên của tác giả trung đại Việt Nam còn là những cuốn bách khoa thư sơ sài, mỗi cuốn thường chỉ bao gồm được một số mặt trong muôn mặt hiểu biết mà đương thời có thể đã tích lũy được. Trong những nội dung được ghi chép ở các cuốn thuộc loại này có những ghi chép về sử, địa, phong tục, điển lễ, danh nhân, về kiến thức sách vở thánh hiền, về luật lệ từ chương, về học hành khoa cử, v.v… và v.v… Chỉ ở những phần nhất định mới có chỗ cho việc ghi chép các nhận xét, bình luận về văn học nói chung, hoặc về một vài tác giả, tác phẩm hay thể loại của văn học nước nhà. Ở Vũ trung tuỳ bút có các mục về học thuật, tự học, văn thể, thi văn, Sơn cư tạp thuật có các mục về thi pháp, học thuật; Lữ trung tạp thuyết giành 32 trong tổng 74 điều cho văn và sử; Thoái thực ký văn trong những mục về chế độ, nhân phẩm, tạp sự có đề cập đến văn học hoặc nhân vật liên quan đến văn học; Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục ở mục “thiên chương” có bàn về thơ văn Lý Trần, trong Vân Đài loại ngữ có các chương về văn nghệ ngữ, âm tự ngữ, thư tịch ngữ…

Chính Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú, theo nhận định của Trần Văn Giáp, là hai nhà thư tịch học Việt Nam lớn nhất ở thời trung đại. Thiên Nghệ văn chí của Lê Quý Đôn trong sách Lê triều thông sử  và thiên Văn tịch chí của Phan Huy Chú trong sách Lịch triều hiến chương loại chí đã kiểm, phân loại và thống kê được những thư tịch của tác giả Việt Nam còn được biết đến ở thời của hai nhà bác học ấy. Thư tịch chí cố nhiên là tối cần thiết cho nghiên cứu văn học, nhưng các thiên thư mục quý giá ấy vẫn chưa phải là tri thức văn học sử.

Ngoài các thành phần kể trên, cũng phải kể đến hoạt động sưu tầm khôi phục văn bản các tác phẩm dân gian và thành văn. Các sách của Lý Tế Xuyên, Trần Thế Pháp, Vũ Quỳnh về truyện dân gian, của Lương Thế Vinh về sân khấu dân gian, của Trần Danh Án, Ngô Đình Thái, Trần Doãn Giác, Vương Duy Trinh, Ngô Giáp Đậu… về thơ ca dân gian, hoặc công trình sưu tầm và khôi phục các tác phẩm của Nguyễn Trãi do Dương Bá Cung thực hiện, cho ta thấy cả một ngành sưu tầm văn bản có truyền thống ít ra là từ đời Trần (thế kỷ XIV).

Tóm lại, những nét sơ lược nêu trên cho thấy ở thời trung đại trong các hoạt động trứ thuật đã hình thành những bộ phận của nghiên cứu văn hóa, nghiên cứu văn học. Tuy vậy qua tất cả các loại trứ thuật ấy, có thể nói là vẫn chưa thấy những dấu hiệu về sự hình thành loại tri thức về lịch sử văn học nước nhà, loại tri thức trực tiếp mô tả, diễn giải tiến trình văn học của cộng đồng xã hội người Việt qua các thời đại lịch sử. Có thể nghĩ rằng trong sinh hoạt văn học của giới nho sĩ bác học suốt thời trung đại, người ta không hề cảm thấy sự thiếu hụt ấy, do vậy chưa hề thấy sự cần thiết phải khai thác và chế biến những thông tin loại này từ những dữ kiện mà hiển nhiên là người ta biết rõ hơn hẳn so với các lớp hậu thế.

***

Chính việc chế biến, “sản xuất” ra loại thông tin, loại tri thức như vậy đã xuất hiện trong nền trứ thuật mới đầu thế kỷ XX, và thế hệ những học giả kiểu mới như Dương Quảng Hàm có vinh dự là lớp người Việt đầu tiên tham dự vào việc soạn thảo loại tri thức này về văn học dân tộc mình.

Và đây là một trong những kết quả của sự xúc tiếp với văn hóa và học thuật Âu Tây.

Ở trên đã nhận xét rằng sử gia trung đại dường như không động bút vào lĩnh vực nào khác hơn là chính sử, là biên niên các triều đại. Nhưng có lẽ điều quan trọng hơn đối với một lĩnh vực văn hóa tinh thần như văn học lại là ở chỗ: sử gia trung đại ở ta và có lẽ ở khắp phương Đông còn chưa hình thành ý niệm về tiến hóa lịch sử. Ý niệm này cùng với phương pháp viết sử kiểu mới đã được du nhập vào nước ta do sự xúc tiếp với văn hóa và học thuật phương Tây, từ giữa thế kỷ XIX. Chúng ta đã nói đến những cuộc canh tân, đổi mới mô hình văn học do cuộc xúc tiếp này; bây giờ phải nói thêm một kết quả khác nữa, rõ ràng là đã thành tựu trước khi diễn ra các cuộc canh tân văn học. Kết quả đó nói gọn là sự đổi mới nền học thuật truyền thống (vốn in đậm cơ sở tư tưởng và mô hình hoạt động, dạng thức thể tài của văn hóa Trung Hoa cổ và trung đại), tạo ra một cảnh  quan học thuật mới, trong đó có sự thành lập những thể tài trứ thuật mới, mà một trong số các thể tài hầu như mới xuất hiện lần đầu này là bộ môn văn học sử.

Dương Quảng Hàm, cũng như hầu hết các học giả cùng thời, là thuộc thế hệ chuyển từ Hán học sang Tây học. Ở ông, cũng như ở các học giả cùng thế hệ, còn thấy dấu ấn khá đậm của Hán học, của Nho giáo, của cốt cách nhà nho. Tuy vậy, vốn Nho học của lớp người này là một học vấn đã được trung giới hóa bởi học thuật Âu Tây; đây không còn là dạng học vấn của các nho sinh thời lều chõng, những tín đồ hoàn toàn đứng bên trong học thuyết đó, văn hóa đó, − cái văn hóa mà ngoài nó ra các nho-sĩ-tín-đồ không thể nghĩ, không thể giả định được là còn có thể có văn hóa nào khác, học thuyết, học thuật nào khác. Ở lớp người như Dương Quảng Hàm, vốn Tây học giống như một hệ quy chiếu mới, có tác dụng về nhiều mặt, mà một trong những tác dụng đó là điều chỉnh lại quan hệ của họ đối với học vấn truyền thống, trung lập hóa nó, biến nó từ chỗ là vòm trời trí tuệ duy nhất sang chỗ là một trong những vòm trời đã biết, và do đó có thể không chỉ đứng bên trong, hoàn toàn như một đệ tử để tiếp nhận những lời thiêng của thánh hiền, mà còn có thể đứng ngoài, xem thánh hiền, tiền hiền như những con người xã hội cụ thể tuy là những người sáng tác, trứ thuật; − từ đấy mới thực sự nảy sinh khả năng mô tả nó, tiếp cận nó, nghiên cứu nó như một thực thể văn hóa.

Nhìn vào dàn mục sách Việt Nam văn học sử yếu, có thể đoan chắc rằng lối tiếp cận và trình bày toàn bộ văn học Việt Nam của tác giả về căn bản là phương pháp của học thuật Âu Tây. Ở đây có sự phân biệt sáng tác ngôn từ dân gian (“văn chương truyền khẩu”, “văn chương bình dân”) với văn học thành văn (viết bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ quốc ngữ), ở đây gọi là “văn chương bác học”. Ở đây văn chương thành văn được mô tả theo tiến trình qua các mốc phân kỳ lịch sử. Việc mô tả theo tiến trình, ở đây, có thể gợi nhớ đến bóng dáng kiểu ghi của sử ký, sử biên niên, nhưng thực chất không hoàn toàn chỉ là như vậy. Ngoài ra, tác giả còn giành gần 20 chương trong 6 thiên, chiếm toàn bộ chương trình một năm học (trong toàn bộ chương trình gồm 3 năm học) để đề cập đến những nhân tố được xem là quan trọng đối với việc mô tả đặc tính của văn học Việt Nam. Đó là những ảnh hưởng văn hóa và văn học có tính chất quốc tế đã từng chi phối sự phát triển của văn học này (các đề mục: “ảnh hưởng của nước Tàu”, “ảnh hưởng của nước Pháp”); đó là học chế và khoa cử theo Nho học, các lối văn cử nghiệp viết bằng chữ Hán; đó là những đặc điểm địa phương của tiếng Việt; đó là các đặc điểm về loại hình loại thể văn học (các đề mục: “thi pháp Tàu và âm luật của ta”; “phéo đối và thể phú”; “các thể văn riêng của ta: truyện, ngâm, hát nói, ca Huế, hát bội”; điển cố như là “tính cách chính của các tác phẩm văn chương”…). Hiển nhiên đây là những đề mục phân tích định tính, được đề xuất trên cơ sở khái quát toàn bộ văn học trung đại, và được trình bày như là những chỉ dẫn về “khóa mã” cho việc nhận dạng nền văn học này khi tìm hiểu nó theo tiến trình niên biểu.

Như vậy, cách tiếp cận của tác giả Dương Quảng Hàm là cách tiếp cận theo phương pháp của học thuật Âu Tây; tác giả không chỉ đứng bên trong mà còn đứng bên ngoài để mô tả nó như một đối tượng khách quan. Cố nhiên trong sách Việt Nam văn học sử yếu cũng còn khá nhiều dấu vết của nhãn quan Nho giáo trong cách phẩm bình về những tác phẩm nhất định. Nhưng trên nét lớn, nó là công trình được viết không phải dưới ánh sáng của ý thức hệ Nho giáo, mà là được viết trong sự gián cách với ý thức hệ ấy, được viết từ các hướng tiếp cận văn hóa học và nghệ thuật học.

Đây có lẽ chính là phần đóng góp quan trọng nhất, tuy không dễ thấy, của tác giả Việt Nam văn học sử yếu vào sự hình thành bộ môn văn học sử Việt Nam. Điểm này cố nhiên cũng không chỉ là sáng kiến độc nhất của riêng Dương Quảng Hàm so với các công trình, bài vở của các học giả người Việt đương thời. Nhưng đề tài về sự tiếp thu, “tổng hợp” thành quả nghiên cứu chung của ông ở công trình này, là một đề tài rộng, cần được đề cập riêng ở một bài viết khác.